7 kỹ năng cần có trước khi vào phòng thi

Kỳ thi hết cấp và kỳ thi THPT Quốc gia đang đến gần. Nếu bạn đang quá căng thẳng hãy hít một hơi thật sâu và bắt đầu trau dồi những kỹ năng cần có trước khi bước vào phòng thi nhé.

Lập kế hoạch học tập ngay từ đầu

Hãy tạo cho mình một kế hoạch học tập, bao gồm mục tiêu và một lịch trình, bản đồ kế hoạch học tập xung quanh mục tiêu đó. Bằng cách đó bạn có thể giữ được tốc độ học tập phù hợp và tránh nhồi nhét kiến thức ở cuối kỳ. "Bạn sẽ có nhiều thời gian và khả năng để ghi nhớ bất cứ thông tin sẽ giúp ích cho bạn ở kỳ thi."

Lập sơ đồ học tập

Việc đầu tiên khi ôn thi là lập một bản tóm tắt hoặc phác thảo chương. "Đây luôn luôn là một chiến lược học tập tuyệt vời, đặc biệt là cho các môn học có nền tảng là kiến thức sách giáo khoa," Sau đó, bạn nên có những cuốn sổ nhỏ để ghi lại và xem lại các thông tin. Bạn có thể tải các ứng dụng trên mạng để ghi chép thông tin trên điện thoại thông minh của bạn." nhạc Baroque hay nhất

Hãy học tập cùng một cuốn vở soạn

Bạn nên bắt đầu học tập cùng một cuốn vở soạn. Bạn sẽ trả lời và học trước các câu hỏi và nắm trước các kiến thức trước khi được giảng dạy ở trên lớp. Kiến thức được trau dồi nhiều lần sẽ giúp bạn nhanh ghi nhớ và vận dụng tốt hơn.

Thực hành viết một cách nhanh chóng

Đây là bí quyết để trả lời các câu hỏi nhiều lựa chọn trong thời gian ngắn nhất, sau đó, bạn sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ và viết một bài luận toàn trước khi hết giờ. Để hoàn thành tốt bài luận, hãy nhớ rằng bạn phải làm nháp và chỉnh sửa câu chữ thật nhanh trong một thời lượng thời gian hạn chế.Hãy tập viết trong một thời gian quy định. "Có khả năng viết một cách nhanh chóng và trôi chảy là rất quan trọng, nhưng lập luận và tổ chức triển khai lập luận rõ ràng. Bạn càng thực hành viết nhiều, bạn càng có thể viết tốt và đều tay hơn. Nhạc Baroque kích thích tư duy, giúp thông minh hơn

Đeo một chiếc đồng hồ trong khi làm bài kiểm tra

Vào ngày thi, hãy nhớ đeo một chiếc đồng hồ, thêm vào đó bạn sẽ không được dùng điện thoại di động của bạn trong các kỳ thi. Hãy để mắt đến thời gian bạn đang dành ra để làm từng câu hỏi. Đừng dành quá nhiều thời gian vào một câu hỏi, loại bỏ các câu trả lời sai để giúp tìm ra một câu trả lời đúng hơn và luôn cẩn thận bạn bôi đen đúng vào bảng câu trả lời. Không có gì tồi tệ hơn là câu trả lời cho câu 35 mà bạn lại bôi đen vào câu 36.

Xác định điểm số mục tiêu của bạn

Qua các bài thi thử, các bài kiểm tra trên lớp, bạn hãy xác định được sức học của mình và mục tiêu của mình. Có điểm số mục tiêu, bạn sẽ có quan điểm và mục tiêu phấn đấu rõ ràng hơn.

Tìm tài liệu trên mạng

Bạn có thể đọc và download miễn phí nhiều tài liệu ôn thi có giá trị dành cho kỳ thi ở trên mạng vì vậy đừng lãng phí thời gian online của mình vào Facebook hay lướt web nhé.

Điểm mấu chốt để có một kỳ thi thành công là: Hãy cố gắng hết mình. Dù là rất khó, nhưng hãy cố gắng đừng quá căng thẳng và áp lực. Đừng ngại nói chuyện với gia đình, bạn bè, thầy cô, hoặc cố vấn học của bạn nếu bạn cần tài thêm tài liệu học tập và cần giải đáp về kiến thức.

Nghị luận xã hội lòng yêu nước

Đề: Suy nghĩ của anh chị về lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ được đặt ra trong bốn câu thơ sau đây:


“Em ơi em
Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”.


(Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)


HƯỚNG DẪN

MỞ BÀI


Lòng yêu nước là vẻ đẹp tâm hồn của mỗi con người sống trong một quốc gia, một lãnh thổ. Lòng yêu nước xuyên suốt qua thời gian, qua không gian là một tình cảm vĩnh hằng, vĩnh cửu. Qua từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử mà lòng yêu nước có những vẻ đẹp riêng. Bốn câu thơ sau đây có lẽ nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nói hộ chúng ta về lòng yêu nước và trách nhiệm của chúng ta về đất nước:

“Em ơi em
Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”

THÂN BÀI

1.Giải thích để hiểu ý nghĩa của 4 câu thơ:

Đất nước là một phần máu thịt của mỗi người. Vì thế, đương nhiên mỗi người là một phần gắn bó không thể tách rời, không thể thiếu của Đất nước. Mỗi người phải biết gắn bó, san sẻ, phải biết hi sinh. San sẻ trách nhiệm, san sẻ niềm vui, san sẻ hạnh phúc cho nhau; phải biết cống hiến, hi sinh cho đất nước, để làm nên sự trường tồn của đất nước. Bốn câu thơ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ với quê hương, tổ quốc của mình.

2.Chứng minh biểu hiện của lòng yêu nước và ý nghĩa của lòng yêu nước.

Tình yêu đất nước là thứ của cải quý giá, qua mỗi thời kỳ thì lòng yêu nước được biểu hiện khác nhau:

Trong chiến tranh đã có biết bao người con ưu tú của đất nước của dân tộc đã hi sinh bản thân mình vì sự tồn vong của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời hi sinh vì dân vì nước. Chị Võ Thị Sáu, anh Lý Tự Trọng, anh Nguyễn Văn Trỗi hi sinh khi tuổi đời còn đang rất trẻ. Anh La Văn Cầu chặt đứt cánh tay mình để vượt qua hàng rào kẽm gai tiếp cận đồn địch cùng quả bộc phá, anh Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, anh Tô Vĩnh Diện dũng cảm lấy thân mình chèn pháo… những tấm gương liệt sĩ ấy là biểu hiện cao nhất của lòng dũng cảm và lòng yêu nước cao đẹp.

Trong thời bình, lòng yêu nước được thể hiện với hình ảnh của những con người ngày đêm cống hiến dựng xây và bảo vệ đất nước. Từ anh lính nơi hải đảo đến những vùng biên giới xa xôi đang ngày đêm canh giữ vùng trời yêu thương của tổ quốc. Đến các anh chị công nhân, các bác nông dân đang sản xuất ra nhiều sản phẩm làm giàu cho đất nước. Đến các thầy cô giáo cùng học sinh, các anh chị sinh viên đang miệt mài trên giảng đường trên bục giảng để đến chân trời tri thức, đưa tri thức phục vụ đất nước. Hoặc các chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ, hi sinh bản thân mình để truy quét tội phạm bảo vệ bình yên cho nhân dân… đó cũng là yêu nước.

Trong văn học, ta thấy một anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa pa đã một mình lên đỉnh Yên Sơn làm công tác đo gió đo nắng để kịp thời báo về trung tâm khí tượng nhằm dự báo thời tiết chính xác đặng phục vụ sản xuất. Là đoàn người hành hương lên Tây Bắc xây dựng vùng kinh tế mới sau chiến tranh “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát/ Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu” (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên). Ý thức dựng xây ấy cũng là biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước.

Đất nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người. Con người phải có tinh thần cống hiến, hi sinh, có tinh thần trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương xứ sở.Đúng như Nguyễn Khoa Điềm đã viết “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. đó là lời thơ dung dị về tình yêu đất nước trong mỗi con người. Đất Nước là nơi ta sinh ra, nơi ta lớn lên, nơi ta được đến trường, được yêu thương và được làm người. Vì vậy, tình yêu đất nước là tình cảm thường trực trong mỗi con người chúng ta. Tôi còn nhớ đến một câu nói nổi tiếng của một cố tổng thống Mỹ “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn mà bạn phải hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc”. Đó là câu hỏi đặt ra với tất cả mọi người chúng ta. Vậy bạn đã làm gì cho tổ quốc ? Thời chiến tranh, mỗi con người của dân tộc Việt là một cây chông, cả dân tộc là một hầm chông. Chúng ta đã đem cả lương tâm và nhân phẩm bắn tỏa lên bầu trời đầy giặc giã, chiến đấu với kẻ thù lớn mạnh để giữ từng mảnh đất yêu thương. Ngày nay, đất nước không còn chiến tranh, chúng ta phải dốc lòng ra học tập và lao động, lấy tri thức là sức mạnh để xây dựng cuộc sống xã hội tốt đẹp hơn. Lòng yêu nước suy cho cùng là một cuộc hóa thân.

3.Bài học nhận thức và hành động: Đất nước – dân tộc là thiêng liêng là sự hòa kết giữa nhiều tế bào sống. Vì vậy, sự tồn tại của cá nhân chỉ có ý nghĩa khi hòa nhập vào cộng đồng. Có như vậy mới đem lại sự thành công trong sự nghiệp chung. Mỗi cá nhân hãy là một mắt xích quan trọng trong sợi dây đoàn kết, hữu ái. Đặc biệt, trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, thế hệ thanh niên đóng vai trò quyết định làm nên một đất nước giàu mạnh. Vì vậy trách nhiệm của chúng ta là ra sức học tập và không ngừng nâng cao nhận thức và trách nhiệm để sẵn sáng làm con người có ích cho xã hội và sẵn sàng xả thân vì tổ quốc trong những hoàn cảnh thử thách của lịch sử.

Bên cạnh đó chúng ta cần phải phê phán những người có lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ cho bản thân mình, vì cái lợi của cá nhân mà bất chấp tất cả, không nghĩ tới người khác, không nghĩ tới cộng đồng. Trong chiến tranh nhiều kẻ đã phản bội tổ quốc làm tay sai cho giặc, bán đứng đồng đội, bạn bè. Trong thời bình, nhiều kẻ còn mang ảo tưởng lật đổ chính quyền hoặc làm nội gián cho ngoại bang. Sự thật ấy thật chua xót biết dường nào.

III. KẾT BÀI

Lòng yêu nước là tình cảm cao đẹp và thiêng liêng, mỗi con người chúng ta cần nhận thức được tình cảm cao đẹp ấy để sống cho ra cuộc sống con người. Riêng bản thân tôi, tôi sẽ cố gắng học tập và ra sức lao động, đem tài năng và nhân phẩm của mình cùng muôn triệu con người dựng xây đất nước giàu mạnh, sánh vai cường quốc năm châu như lời dạy của Bác. Xin được lấy bốn câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thay cho lời kết:


Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt


Như mẹ cha ta như vợ như chồng


Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết


Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông


Thầy Phan Danh Hiếu

Phân tích vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến

Phân tích vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến (Tây Tiến – Quang Dũng). Qua đó hãy liên hệ lý tưởng sống của thanh niên ngày nay.

BÀI LÀM

Trong vườn hoa thơ ca viết về người lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có rất nhiều bông hoa lạ mà đẹp. “Tây Tiến” là một trong những bông hoa viết về người lính mang một vẻ đẹp khác với vẻ đẹp của người lính các bài thơ cùng thời. Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến kiên dũng mà tình tứ, cháy bỏng khát vọng lập công của một thời anh hùng rực lửa mà lại rất lãng mạn hào hùng, hào hoa.


     Tây Tiến ra đời vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp khi mà những chàng trai “mang chí nam nhi thời loạn,” “xếp bút nghiên ra xa trường”. Họ coi gian nan là “nợ anh hùng phải vay” nên sẵn sàng dấn thân đương đầu với mọi gian nan thử thách trong hàng binh trận mạc. Họ ra đi bỏ lại sau lưng mình “gian nhà không mặc kệ gió lung lay” , bỏ lại sau lưng “luống cày đất đỏ, tiếng mõ đêm trường”, họ ra đi “lột sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm/ Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”. Họ là nam nhi thời loạn với vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam “trượng phu có chí anh hùng”. Nhưng họ cũng là những con người mà khi “Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” nên bản thân họ chứa đựng hai vẻ đẹp hào hùng và hào hoa.

     Hào hùng là vẻ đẹp mang phẩm chất, cốt cách mạnh mẽ thuộc về ý chí. Hào hoa là thuộc về tình cảm lãng mạn. Hai nét hào hùng và hào hoa dường như đối lập nhau, hào hùng là ý chí là sức mạnh là hào khí của một lớp thanh niên mang tinh thần thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hào hoa lại là một tâm hồn mềm mại lãng mạn “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, “Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”.

     Viết về người lính trong chiến tranh văn học nói chung, thơ ca nói riêng chủ yếu chỉ đề cập đến vẻ đẹp dũng cảm anh hùng mà ít khi bộc lộ vẻ đẹp lãng mạn tình tứ trong tâm hồn người lính, thực ra đây chính là một điểm thành công của Tây Tiến, chính nhờ có điểm thành công này mà vẻ đẹp của người lính Tây Tiến mang sắc thái vừa riêng biệt vừa cùng với vẻ đẹp của người lính trong các bài thơ khác. Đồng chí của Chính Hữu, Cá nước của Tố Hữu… đã hoàn chỉnh về vẻ đẹp  của anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp.

     Vẻ đẹp hào hùng hào hoa của người lính Tây Tiến hiện lên qua cuộc sống chiến đấu vô cùng gian khổ.  Một cuộc vạn lý trường chinh Tây Tiến đầy gian nan thử thách. Núi cao, dốc đứng, thác ghềnh,vực sâu… Có lúc như chìm vào thung lũng sương mù hay đỉnh núi cao chọc trời Tây Bắc “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Có lúc đoàn quân rơi vào trận địa của núi non trùng điệp:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

                                    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

     Thiên nhiên cứ cố tình giăng ra biết bao thử thách bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng bẻ gẫy ý chí của con người. Người lính Tây Tiến cứ thầm lặng dấn thân, cứ dần vượt qua hiểm trở của lộ trình oai linh của rừng thiêng núi độc. Sự rình mò của thú dữ, sự dãi dầu của thân xác. Rồi cái chết hiện ra, người lính Tây Tiến phải đối mặt với tất cả:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

     Hào hùng nhất mà cũng lãng mạn nhất có lẽ là lúc Quang Dũng khắc họa chân dung người lính:

 Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

      Chân dung ấy được khắc họa bởi hai nét vẽ chủ đạo: Bi và Tráng. Bi là bi thương. Tráng là hào hùng. “Bi tráng” vừa đối lập mà cũng vừa thống nhất hài hòa, nghĩa là vừa đau thương vừa hào hùng hay càng đau thương càng hào hùng. Bi thương ấy hiện lên qua ngoại hình người lính ốm đau, tiều tụy, đầu trọc “không mọc tóc” , da dẻ xanh xao, héo úa “quân xanh màu lá”. Ma thiêng nước độc của Tây Bắc thật khủng khiếp. Lam sơn chướng khí núi rừng và hậu quả của sốt rét rừng ác tính, của đói rét, gian khổ đã bào mòn đi sức trẻ của những người lính. Sốt rét là một thực tế khắc nghiệt. Thơ ca kháng chiến chống Pháp không ít những lần nhắc đến như thế:

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

(Chính Hữu)

Sốt rét đến “Má anh vàng nghệ” (Tố Hữu), đến “Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/ Đâu còn tươi nữa những ngày xanh” (Thôi Hữu)… Còn lính Tây Tiến sốt rét đến rụng hết tóc trông đến kỳ dị.

     Đối lập với “bi” là “Tráng”. Nghệ thuật tương phản giữa cái bên trong trong (tinh thần) và cái bên ngoài (ngoại hình) đã tạo nên vẻ đẹp của Tây Tiến. Đoàn quân ốm mà không yếu, bi mà vẫn hùng vì: Hình ảnh “không mọc tóc” gợi cái ngang tàng, ngạo nghễ, coi thường gian khổ của chất lính trẻ luôn hóm hỉnh đùa vui.  Từ “đoàn binh” mang nghĩa rộng hơn “đoàn quân” để chỉ sự đông đảo, hùng mạnh. Ba từ “dữ oai hùm” là phi thường hóa người lính. Đó là những con người đang làm chủ tình thế, áp đảo kẻ thù. Vì thế cái hùng lấn át cái bi, sức mạnh chiến đấu lấn át hoàn cảnh tạo nên một tập thể có sức mạnh “thôn Ngưu đẩu”.

     Hai câu thơ tiếp, người lính hiện lên bởi vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa trong mộng trong mơ:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

     Vẻ đẹp Lãng mạn là vẻ đẹp tâm hồn vượt qua hiện thực gian khổ hướng tới niềm lạc quan. Ở đây, trong gian khổ thiếu thốn nhưng người lính vẫn mộng mơ.

      “Mắt trừng” là đôi mắt vừa có chí vừa có tình:  “Chí” trong ý chí đánh giặc. Đôi mắt ấy đang gửi về bên kia biên giới giấc mộng đánh giặc, mộng lập công, mộng hòa bình, mộng trở về. “Tình” trong tình yêu quê hương, con người. Đôi mắt ấy gửi vào giấc mơ về Hà Nội “Đêm mơ Hà Nội”. Hà Nội là quê hương của người lính cũng là thủ đô yêu dấu. Hà Nội của cả nước, của biết bao vần thơ trong nỗi nhớ. Một Nguyễn Đình Thi xao xuyến với mùi hương cốm mới, một làn hơi may rất mỏng, lá vàng rơi…

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

      Tướng Huỳnh Văn Nghệ “Nhớ Bắc” với “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

     Lính Tây Tiến ra đi thì mãi nhớ về một Hà Nội với “dáng kiều thơm”. Kiều thơm là chỉ bóng dáng những người bạn gái đẹp, thanh lịch, dịu dàng. Còn là hình bóng trong mộng của Quang Dũng (Theo lời kể của nhà thơ Vân Long thì người người yêu Quang Dũng dạo ấy có tên chữ lót là Kiều).

     Từng một thời bài thơ Tây Tiến bị xem là “có vấn đề” cũng vì chất mộng mơ trong hai câu thơ này. Nhưng thời gian đã chứng minh cho sự bất tử của nó, chất lãng mạn chính là liều thuốc tinh thần cho người lính vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt thời bấy giờ. Đó là lãng mạn cách mạng chứ không phải là cái lãng mạn kiểu “mộng hão”, “mộng rớt” của giai cấp tiểu tư sản như Hoài Thanh và một số nhà phê bình từng nhận xét.

     Giữa những ngày gian khổ các chiến sĩ Tây Tiến vẫn vui vẫn sống vẫn giữ nguyên cốt cách hào hoa của mình, họ tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt

 Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ.

     Cái dữ dội khốc liệt của chiến tranh biến mất chỉ còn lại không gian tràn ngập ánh sáng chập chờn hội đuốc hoa và tâm hồn người lính như bốc men say trong hội vui thắm thiết của tình quân dân. Câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” bộc lộ tất cả cái ngỡ ngàng vui sướng cái đắm say của tâm hồn lại có cái hóm hỉnh, tinh nghịch của lính. Có thể hình dung những tâm hồn hào hoa ấy đang đắm chìm trong vẻ đẹp của những bóng hồng Tây Bắc. Người lính như được chắp cánh  bởi vẻ đẹp con người và cảnh vật vùng Tây Bắc, như đang bay lên trong tiếng nhạc điệu khèn. Phải có một cái gì đó thật lãng mạn đắm say trong tâm hồn Quang Dũng nên ông mới viết được những câu thơ hay đến thế. Những chữ “xiêm áo”, “man điệu”, “khèn lên,” “nhạc về” gợi lên vẻ đẹp hư ảo, một vẻ đẹp vừa gần vừa xa của một khung cảnh nơi xứ lạ phương xa, làm lòng người như đắm say, xốn xang hơn.

     Đi suốt bài thơ ta gặp cái chất bốc tếu, cái ngang tàng kiêu bạc của người lính Tây Tiến rất rõ. Vừa treo mình cùng hơi thở nặng nhọc trên các dốc núi cheo leo ta gặp ngay cụm từ “súng ngửi trời” rất dí dỏm, rất lính. Thiên nhiên miền Tây dữ dội với núi cao, vực thẳm, thác gầm  lùi lại phía sau người lính. Vẻ đẹp tâm hồn lạc quan của người lính được nhân lên sánh ngang thiên nhiên hùng vĩ. Đi suốt toàn bài thơ cái chất hào hùng của người lính hiện lên qua hiện thực gian khổ thiếu thốn tột cùng “sương lấp,” “đoàn quân mỏi,” “dãi dầu”, “không bước nữa,” “bỏ quên đời” với ý chí dấn thân thái độ kiên định sắt đá “chẳng tiếc đời xanh,” “không hẹn ước,” “chẳng về xuôi.”

Đến cái chết cũng thật Hào hùng hào hoa !

     Nói đến người lính, nói đến chiến tranh không thể tránh khỏi cái chết. Cái chết vẫn là một mối đe doạ, một sự thật đáng ngại và rất bi thảm, nhưng qua ngòi bút Quang Dũng ta lại thấy dược ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến, có thể nói ngay cái chết cũng rất đỗi hào hùng người lính Tây Tiến dù có chết cũng “không rời vũ khí, không xa đội ngũ”.

      Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

     Rồi những cái chết nơi rừng hoang biên giới “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nhưng câu thơ thứ hai lại vang lên như một lời thề “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đúng là giọng điệu của bậc trượng phu “Coi cái chết nhẹ như lông hồng” sáng ngời chí trai cường: “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”.

     Hai câu thơ:

 Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

đã đẩy vẻ kiêu dũng lên cực điểm, hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ để tái tạo ở đây vẻ đẹp tráng sĩ làm mờ đi thực trạng thiếu thốn , gợi được hào khí của chí trai thời loạn. Chữ “về” nói thái độ ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vào cái chết. Phong Lan trong “Bài thơ Tây Tiến – tượng đài bất tử về người lính vô danh” đã nói về vẻ đẹp của người lính Tây Tiến qua cái chết như sau: “Lý tưởng cách mạng đã truyền cho các chàng trai Tây Tiến chất anh hùng ngang tàng và chất men say lãng mạn ngay cả khi họ chết cũng như phảng phất nét nghệ sĩ tài tử”.

     Ngày nay đọc lại “Tây Tiến” của Quang Dũng, bỗng thấy nhớ đến nao lòng một thời kỳ lịch sử bi tráng của dân tộc, một thời đại “Một đi không trở lại”. Các anh đã ngã xuống cho “lá cờ cách mạng thêm đỏ thắm”, cho tượng đài tự do được tôn cao. Lịch sử sẽ mãi nhớ tên các anh những người anh hùng bất tử.

     Thế hệ thanh niên ngày nay sống trong thời bình cũng rất xứng đáng với thế hệ cha anh ngày ấy. Họ trân trọng những giá trị lịch sử, biết yêu quý và giữ gìn những thành quả mà cha anh đã đổ xương đổ máu để bảo vệ. Chính vì vậy, họ phát huy sức mạnh quyền làm chủ trong học tập trong lao động. Phát huy sức mạnh tuổi trẻ để đưa đất nước Việt Nam ra tầm thế giới. Đội Robocon của ĐH Lạc Hồng luôn mang về giải sáng tạo trong các cuộc thi quốc tế. Các đội tuyển thể thao cờ vua, bóng đá, cầu lông… đến các đội đi thi Olympic Toán, Vật Lý, Hóa Học đều giành giải cao mang lại vẻ vang cho nước nhà. Đấy là hình ảnh đẹp cho sự vươn xa của trí tuệ Việt.

     Thanh niên ngày nay cũng rất coi trọng lòng biết ơn, coi trọng giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc ta “Uống nước nhớ nguồn”. Hình ảnh, đoàn người xếp hàng dài trước linh cữu đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều bạn trẻ không cầm được nước mắt trước sự ra đi của người là biểu tượng cho vẻ đẹp về lòng tự cường, tự tôn dân tộc.

     Bác Hồ nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại kết thành một làn sóng sôi nổi”. Quả đúng như vậy, dân ta ở đây, mà trước hết là tuổi trẻ đã thể hiện quyết tâm rực lửa ấy bằng những hành động có tính đoàn kết cao độ. Biểu hiện đó là hàng năm có hàng ngàn thanh niên tình nguyện nhập ngũ tham gia vào công tác huấn luyện. Vào độ tháng 5.2014, khi Trung Quốc ngang ngược đặt giàn khoan HD – 981 vào thềm lục địa Việt Nam, hàng triệu con người Việt Nam đã xuống đường tuần hành (trong đó chủ yếu là thanh niên). Họ đã hăng say đấu tranh cho công lý, đấu tranh cho lẽ phải, đấu tranh cho chủ quyền. Đó là họ đang sống cho xứng đáng với bao anh hùng đã ngã xuống trên mảnh đất này.

     Thanh niên ngày nay họ cũng rất biết yêu thương, nghĩa tình, nhân ái. Họ sống quý trọng người già, yêu thương em nhỏ. Họ biết sống hi sinh bản thân mình vì người khác và vì những điều lớn lao cho cộng đồng cho xã hội. Một Nguyễn Hữu Ân chăm sóc mẹ bị bệnh ung thư, mẹ mất, nhận người đàn bà bên cạnh giường bệnh của mẹ mình làm mẹ nuôi (người mẹ nuôi ấy cũng bị bệnh ung thư); Nguyễn Văn Nam học sinh trường THPT Đô Lương 1 (Nghệ An) đã hi sinh sau khi cứu được 5 em nhỏ khỏi bị chết đuối… Chừng ấy tấm gương đủ để thấy thanh niên ngày nay rất đáng tự hào.

     Tuy nhiên, cũng công bằng mà nói, bên cạnh những thanh niên trở thành biểu tượng cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam thì cũng không ít bạn trẻ lại trở thành điều ngược lại. Đáng phê phán và lên án thay là một bộ phận giới trẻ bây giờ sống vô cảm, chỉ biết sống cho riêng mình, hưởng thụ cho chính mình mà không thèm quan tâm đến mọi điều xung quanh. Họ làm ngơ trước ánh mắt van xin của một cụ già đang cần một bàn tay dắt qua đường, họ lạnh lùng trước một em bé xin ăn đang đói lả, họ phung phí ổ bánh mì vào thùng rác trong khi đây đó có bao người phải ăn cả giấy gói bánh còn dính ít đồ thừa… Trong khi họ vung tiền vào quán Bar, vũ trường… thì còn đó bao em thơ chưa một lần được có tấm áo lành lặn để đến trường. Đáng buồn thay.

     “Tây Tiến” của Quang Dũng là bài thơ về một thế hệ thanh niên với lý tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – họ là những con người đã nguyện dâng hiến máu xương mình cho tổ quốc. Thời gian đã đi qua, gió bụi thời gian có thể phù mờ bao huyền thoại nhưng tượng đài về người chiến binh Tây Tiến năm xưa thì mãi mãi bất tử cùng thời gian. Càng trân trọng và yêu quý thế hệ cha anh ngày ấy đã ngã xuống vì hòa bình, thế hệ thanh niên chúng ta ngày nay phải quyết tâm sống sao cho thật xứng đáng.

Nghị luận về thực trạng điểm thi môn lịch sử

Đề bài: Viết bài văn (khoảng 600 từ) bàn về thực trạng “Thống kê từ điểm thi các trường ĐH cho thấy điểm thi môn lịch sử ở hầu hết các trường thấp đáng lo ngại. Hầu hết các trường, tỉ lệ thí sinh đạt điểm thi môn sử từ trung bình trở lên chỉ chiếm từ 0,3-5%. Ở các trường địa phương, điểm thi môn sử càng đáng báo động. Chẳng hạn Trường ĐH Tiền Giang, hơn 98% thí sinh có điểm thi môn sử dưới trung bình. Trường có 253 thí sinh dự thi khối C nhưng chỉ có năm thí sinh đạt điểm từ 5 trở lên, chiếm 1,97%. Trong số đó, cần nói rõ thêm điểm cao nhất chỉ là 5,25 điểm. Thế nhưng có đến 47 thí sinh có điểm 0”

(Theo tuoitre.vn – Kỳ thi ĐH 2011 Điểm thi môn sử thấp không ngờ)


MỞ BÀI: nêu vấn đề cần nghị luận.

THÂN BÀI

1.Giải thích và nêu thực trạng:

Môn lịch sử là một môn thuộc chuyên ngành xã hội, đây là môn học mà qua đó học sinh có kiến thức về lịch sử, văn hóa dân tộc và nhân loại góp phần hình thành nhân cách con người. Tuy nhiên qua các kỳ thi quốc gia như Tốt nghiệp, Đại Học lại có hàng ngàn điểm 0 môn lịch sử khiến cho dư luận rất bất bình đúng như thông tin Tuổi trẻ đã đưa tin “Hầu hết các trường, tỉ lệ thí sinh đạt điểm thi môn sử từ trung bình trở lên chỉ chiếm từ 0,3-5%. Ở các trường địa phương, điểm thi môn sử càng đáng báo động. Chẳng hạn Trường ĐH Tiền Giang, hơn 98% thí sinh có điểm thi môn sử dưới trung bình”.

2.Bàn luận

a. Từ cách giải thích ở trên ta thấy thực trạng nêu trên về môn Lịch sử để lại nhiều tác hại:
- Thế hệ tuổi trẻ không hiểu biết về nguồn cội, về lịch sử cha ông. Từ đó sẽ kéo theo sự suy thoái lòng tự tôn dân tộc.

+ Thời gian qua mạng xã hội đang truyền tay nhau một đoạn clip dài 4 phút quay cảnh học sinh trường THPT Nguyễn Hiền, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, sau khi nghe thông tin không có môn Sử trong kỳ thi TN 2013 đã đồng loạt xé đề cương sử và tung ra sân trường. Sự việc này đã khiến cả nước rất bất bình.

- Sự không hiểu biết về lịch sử sẽ dẫn đến không hiểu biết về văn hóa dân tộc cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức, lối sống. (Chứng minh)

- Một thế hệ không hiểu biết về lịch sử sẽ dẫn đến kéo theo nhiều thế hệ bị "mù" lịch sử. Từ đó những giá trị về cội nguồn, cha ông, tổ tiên cũng bị xem nhẹ. (Chứng minh)

b. Từ việc phân tích tác hại đã nêu ở trên, ta cần tìm ra nguyên nhân. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến điểm kém môn Lịch sử nhưng chủ yếu là những nguyên nhân sau:

- Do quan niệm chạy theo một số ngành “hàng hiệu” của đại bộ phận phụ huynh và học sinh khi quyết định thi vào các trường ĐH & CĐ.

- Nhà nước không có đủ kinh phí để tổ chức những buổi học Lịch sử mang tính thực tế bằng cách đi tham quan, dã ngoại. Tiết Lịch sử thiếu sinh động, gây chán nản ở học sinh.

- Thời lượng dành cho môn Lịch sử ở trường Phổ thông không nhiều mà khối lượng kiến thức thì đồ sộ (bao gồm Lịch sử Việt Nam và Lịch sử thế giới) nên GV Lịch sử chỉ truyền đạt cho HS theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”…

- Thi cử không nghiêm túc dẫn đến quay cóp tài liệu, dần ỷ lại, không chịu học.

c. Qua việc phân tích những nguyên nhân ở trên ta cần tìm ra biện pháp khắc phục:

- Giáo dục tinh thần học tập bộ môn.

- Tăng cường giám sát kiểm tra nghiêm túc trong các kỳ thi tại trường Phổ thông.

- Tăng tiết môn Lịch sử, giảm tải bài học. Giáo viên cần thay đổi phương pháp dạy học.

- Cần có băng hình, hoặc tham quan, dã ngoại tạo sự hứng thú trong học tập.

3. Bài học cho bản thân: thường xuyên trau dồi kiến thức lịch sử; giáo dục thế hệ trẻ quan tâm đến lịch sử nước nhà.

III. KẾT BÀI

- Đánh giá chung về vấn đề.

Suy nghĩ của anh chị về lời dạy của Phật: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”

Đề : Suy nghĩ của anh chị về lời dạy của Phật: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung” .

HƯỚNG DẪN


I. MỞ BÀI

Trong cuộc sống của chúng ta, mở rộng lòng khoan dung, tha thứ độ lượng là một trong những đức tính, phẩm chất vô cùng cao quý, tốt đẹp của con người. Vì vậy, Phật - người được xem là hiện thân của lòng bác ái đã xem đó là một thứ tài sản vô giá. Người đã dạy chúng sinh rằng: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”.

II. THÂN BÀI

1. Trước hết ta cần hiểu lời dạy này có ý nghĩa như thế nào? “Tài sản” là sự sở hữu của cá nhân hay tập thể về một giá trị vật chất hay tinh thần có ý nghĩa rất lớn. “Khoan dung” là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi làm mà người khác (thường là người dưới) đã phạm phải. Như vậy cả câu này có ý nghĩa là: lòng khoan dung là phẩm chất cao quý của con người là thứ tài sản có giá trị cao nhất của con người.
2. Bàn luận:
a. Từ cách giải thích đã nêu ở trên, ta thấy lòng khoan dung của con người trong cuộc đời mang lại nhiều ý nghĩa cao đẹp.
- Trong con người ta, có phần tốt và phần xấu, phần thiện và phần ác, phần người và phần con. Chính lòng bao dung đã góp phần tẩy rửa phần con, tô đậm thêm phần người, phẩm giá làm người.
- Mặt khác, lòng khoan dung sẽ là một yếu tố quan trọng đem lại sự bình yên, hoà thuận, thân thiện cho xã hội và gia đình.
- Khi ta thể hiện lòng khoan dung với ai đó thì tâm hồn ta cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì đã làm được một điều có ý nghĩa của phẩm chất nhân ái, vì như thế là không phạm vào sự nhỏ nhen, hẹp hòi, trái với phẩm chất quý giá của con người.
- Mặt khác, khoan dung, tha thứ lỗi lầm cho người khác thì có thể cảm hoá được họ. Khi được nhận lòng khoan dung của ta, thì bản thân người đó sẽ ăn năn hối lỗi, tự tu chỉnh bản thân mình, sửa chữa lỗi lầm và có thể biết ơn ta nữa, để từ đó không tiếp tục phạm lỗi mà họ đã từng mắc phải. (Nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước, nhiều tướng cướp đã hoàn lương trở thành con người có ích cho xã hội; Nguyễn Trãi và Lê lợi sau khi đại thắng quân Minh, đã cấp thuyền, ngựa, lương thực cho bại quân trở về chính quốc)
b. Tuy nhiên bên cạnh sự ngợi ca về lòng khoan dung ta cũng cần phê phán lối sống ích kỷ, cố chấp, thù dai.
- Tác hại của lối sống ấy: làm cho con người sống với nhau chỉ có ích kỷ, hận thù.
3. Từ việc phân tích ở trên ta cần rút ra cho mình bài học nhận thức và hành động:
- Về nhận thức ta thấy: lòng khoan dung làm cho tâm hồn ta trở nên thánh thiện, cao thượng và giàu có hơn. Đúng như một triết gia nào đó đã nói: sự nghèo nàn về của cải vật chất không đáng sợ bằng sự nghèo nàn về tâm hồn. Vì thế, ta phải lấy sự khoan dung, sự nhường nhịn làm phương châm xử thế: “Một sự nhịn, chín sự lành”
- Về hành động ta cần: rèn luyện nhân cách, phẩm giá, sống biết yêu thương, sẻ chia, đồng cảm; biết kiềm chế những cảm xúc nóng giận và học cách yêu thương, vị tha, khoan dung.

III. KẾT BÀI

Thấm thía lời dạy của Phật, bản thân mỗi chúng ta, phải không ngừng tự rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình có lòng khoan dung rộng lớn. Lòng khoan dung là tài sản vô giá của con người và cũng là phương châm đối nhân xử thế tốt nhất để nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và đưa lại sự bình an cho cuộc sống.

Vẻ đẹp độc đáo đồng thời cũng là đặc sắc bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Đề: Vẻ đẹp độc đáo đồng thời cũng là đặc sắc bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Hãy giải thích vì sao có điều đó và phân tích bài thơ để làm sáng tỏ.


Dàn bài chi tiết

1. Mở bài
Có những bài thơ đã sống cuộc đời đầy thăng trầm và cũng khá truân chuyên nhưng cuối cùng vẫn định hình trong lòng độc giả và khẳng định giá trị đích thực của mình trong thơ ca. Tây Tiến của Quang Dũng là một tác phẩm như thế. Bài thơ được nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của kháng chiến bởi đó là một tiếng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của một thời anh hùng rực lửa không thể nào quên.
2. Thân bài
Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là nét đặc sắc bao trùm bài thơ, làm nên vẻ đẹp riêng của Tây Tiến. Nhưng điều đó do đâu mà có và nó đã được thể hiện trong bài thơ như thế nào ?
a. Lí giải về cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của bài thơ Tây Tiến
Ở đây có sự gặp gỡ giữa hồn thi nhân, nhân vật trữ tình trong tác phẩm, cái thời anh hùng rực lửa giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp và chiến trường miền tây dữ dội, ác liệt nhưng cũng rất thơ mộng, trữ tình. Cả bốn yếu tố trên dường như đã hội tụ mãnh liệt và da diết trong nỗi nhớ của Quang Dũng để trào ra cảm hứng lãng mạn và bật lên tinh thần bi tráng trong cái phút “xuất thần” sinh ra “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện” Tây Tiến.
Quang Dũng là một hồn thơ hào hoa và lãng mạn. Lính Tây Tiến cũng là những con người như thế, phần lớn là người Hà Nội, mang đậm chất hào hoa, lãng mạn của những chàng trai kinh thành. Khung cảnh chiến trường Tây Tiến dữ dội, ác liệt nhưng rất thơ mộng, trữ tình. Cuộc Tây Tiến đánh giặc của họ lại càng đẹp theo phong vị lãng mạn của những tráng sĩ “vung gươm ra sa trường” thời ấy. Hồn thơ lãng mạn Quang Dũng đã gặp một mảnh đất thơ “lãng mạn”, được một “bầu trời thơ” lãng mạn bao quanh làm sao có thể không trào ra cảm hứng lãng mạn bay bổng trong bài thơ này ?
Tinh thần bi tráng do đâu mà có ? Chiến trường Tây Tiến ác liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là hiện thực khốc liệt của cuộc chiến. Quang Dũng không lẩn tránh cái bi, nhưng đem đến cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Đó là nhờ cái “tráng” rất khỏe của thi sĩ đã át được, thắng được cái “bi”. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và cả một lớp trai trẻ như ông thời ấy, mang trong lòng một bầu máu nóng “thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “một ra đi là không trở về” như hình mẫu những tráng sĩ anh hùng trong truyện cổ mà họ từng ôm ấp. Cái “tráng” lại được luồng gió yêu nước của thời anh hùng rực lửa của thời bấy giờ thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng ấy bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
Như vậy, cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau để làm nên linh hồn, sắc diện của bài thơ và tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm.
b. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng được thể hiện trong bài thơ như thế nào ?
Cảm hứng lãng mạn thể hiện cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và phát huy cao độ trí tưởng tượng. Cái tôi của Quang Dũng trong Tây Tiến là một cái tôi như thế. Nó trào ra ngay đầu bài thơ, đầy ắp và mãnh liệt trong một nỗi “nhớ chơi vơi” rất lạ, để rồi sau đó tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ. Cái tôi ấy có mặt ở khắp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình, thơ mộng, đến một hội đuốc hoa đầy sắc màu của xứ lạ phương xa ; từ nỗi nhớ một bản làng Mai Châu “cơm lên khói” đến một “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thật hào hoa lãng mạn. Nhà thơ đã tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ bằng cách sử dụng thủ pháp đối lập. Trí tưởng tượng bay bổng khiến cho thi nhân hình dung ra một “đêm hơi”, cảm nhận được cái oai linh của Thần Núi, thấy được “hồn lau nẻo bến bờ” và nghe được cả tiếng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”…
Tinh thần bi tráng thể hiện ở chỗ nhà thơ không lẩn tránh cái bi, thường đề cập đến cái chết, nhưng đó không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, lẫm liệt của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử. Bài thơ ba lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ là cái chết sang trọng này :
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Sang trọng vì được bọc trong những tấm chiến bào, được về với Đất Mẹ, và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để đưa tiễn hương hồn người chiến sĩ. Ở đây thủ pháp cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đỉnh cao của nó.
Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm dấu nhất ở đoạn thơ thứ ba khi Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến, đồng đội của ông, trong các cặp hình ảnh đối lập : giữa ngoại hình tiều tụy với thần thái “dữ oai hùm”, giữa “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” với “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, và nhất là hình ảnh của cái chết “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng của người chiến sĩ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”! Một tư thế ra đi như thế thì cái chết còn có nghĩa lí gì đối với họ ?
3. Kết bài
Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng đã làm nên vẻ đẹp riêng và giá trị bền vững của bài thơ Tây Tiến. Đó là vẻ đẹp của một thời hào hùng rực lửa một đi không trở lại, nhưng tiếng thơ bi tráng của hồn thơ lãng mạn hào hoa Quang Dũng đã kịp ghi lại và giữ lại cho đời một khung cảnh chiến trường đã đi vào lịch sử và một “tượng đài bất tử về người lính vô danh”.

Phân tích Ngô Tử Văn trong chuyện chức phán sự đền Tản Viên

Chuyện chức phán sự ở đền Tàn Viên là 1 trong những chuyện hay, tiêu biểu của Truyền kỳ mạn lục. Câu chuyện đã phê phán hiện thực xã hội và đề cao phẩm chất kẽ sĩ, đồng thơi phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc của tác giả, mà nhân vật chính là Ngô Tử Văn một con người tính tình khảng kháng, trung trực.

Khác với một số truyện trong đó Nguyễn Dữ trình bày lai lịch và hành trình số phận của nhân vật từ đầu đến cuối, Chuyện chúc phán sự ở đền Tản viên chỉ chọn 1 thời điểm có ý nghĩa nổi bật để bộc lộ đầy đủ tính cách nhân vật. Chuyện giống như một màn kịch ngắn, mở màn là sự xuất hiện của ngô Từ Văn với hành động châm lửa đốt đền thiêng. Hành độn đó chính là ngòi nổ cho 1 cuộc chiến đấu giữa chàng và hồn ma tên tướng giặc bại trận.
Cuộc chiến ngay đầu đã thể hiện được sự gay go khốc liệt và ngay từ lúc ấy tính cách Tử Văn được bộc lộ . Chàng “rất tức giận”, “tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi chăm lửa đốt đền”. Hành động của Tử Văn là hành động có chủ đích, là hành động tuyên chiến với cái ác, với kẻ thù vì lợi ích trừ hại cho dân, xuất phát từ tính tình khảng khái, cương trực, can đảm của chàng.  Tử Văn quyết sống mái với kẻ gian tà, cho dù đối thủ là kẻ mà ai cũng phải kinh sợ.
Tuyên chiến với 1 kẻ thù đầy sức mạnh hiểm ác, lúc đầu Tử Văn “đơn thương độc mã”, nhưng Tử Văn tin vào việc làm và sức mạnh chính nghĩa của mình. Hành động ngồi “vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên” của Tử Văn trước lời đe dọa của tướng giặc không phải là hành động bất cẩn của kẻ liều mà là hành động tự tin của người nắm được chính nghĩa trong tay.  Cau hỏi của Tử Văn với Thổ Công :”Hắn có thực là tay hung hãn có thể gieo vạ cho tôi không?” không phải là câu hỏi của kẻ hoang mang lo sợ mà là cuâ hỏi của người muốn “biết địch biết ta” để giành lấy thắng lợi.
Trong cuộc chiến đấu, Tử Văn có được sự trợ giúp của Thổ Công, nhưng với 1 người bị đánh đuổi khỏi nơi ở của mình, không dám đấu tranh, “phải đến nương tựa đền Tản Viên”,”phải tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi” thì Tử Văn trông mong gì nhiều ở “ngoại viện”? cho nên, về cơ bản thì Tử Văn không hề có âm phù, dương trợ. Trong khi đó cuộc đấu tanh của chàng ngày càng gay go quyết liệt. khi đối chất cùng tướng giặc, Tử Văn hoàn toàn tin vào bản thân, tin vào chính nghĩa mà chàng có thêm sức mạnh. Nhưng ở chốn thâm cung, chàng khẳng định điều này đâu phải là dễ. Do chỉ nghe 1 bên nguyên, Diêm Vương – vị quan tòa xử kiện, người cầm cán cân công lý cũng đã có lúc tỏ ra hồ đồ. Chính khi đứng trước pháp luật tử Văn càng tỏ rõ chàng là người có khí phách. Chàng không chỉ “kêu to”, khẳng định “ngô Soạn này là kẻ ngay thẳng ở trần gian”, chàng còn dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tàn với lời lẽ rất “cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. Giữa chốn công đường nơi âm phủ, tính cách Tử Văn vẫn là bộc trực, khảng khái, vẫn một quyết tâm sắt đá. Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Cú từng bước, Ngô Tử Văn đã đánh lui tất cả sự phản công, kháng cự của kẻ thù, cuối cùng là đánh gục hoàn toàn tên tướng giặc gian manh xảo trá.
Màn kịch khép lại với thắng lợi thuộc về Ngô Tử Văn. Kết thúc có hậu này chứng tỏ Nguyễn Dữ cũng đã tìm về nguồn cợi “truyền thống nhân đạo và yêu nước” cuả dân tộc VN: “chính nghĩa thắng gian tà, tinh thần dân tộc thắng ngoại xâm” mà  chính nghĩa đó được thể hiện qua hình ảnh nhân vật chính Ngô Tử Văn của chúng ta, một con người với một chính nghĩa toàn diện.

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NHĨ TRONG TRUYỆN BẾN QUÊ

Có cái gì xót xa phôi pha đi trong bóng tối, tha thiết hơn trong cái màu đậm sót lại kia. Nó tự là mình một lần cuối, thức nhận về chảy trôi và kết đọng một lần cuối trước khi hoà vào cái mong manh vĩnh cửu. Giống như hình ảnh Nhĩ khi kết truyện: “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả m­ời đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy”.
Có khác thường không cái ham muốn cuối cùng của một đời người chỉ là nhờ con sang bến sông ngay bên nhà mình như­ thế này (?):

“Nhĩ tập trung hết sức còn lại để nói ra cái điều ham muốn cuối cùng của đời mình:

– Bây giờ con sang bên kia hộ bố…

– Để làm gì ạ?

– Chẳng để làm gì cả. – Nhĩ có vẻ ngượng nghịu vì cái điều mình sắp nói ra quá kì quặc – Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về”.


Có những sự thực vẫn tồn tại như nghịch lí. Tình huống tự sự của Bến quê, trước hết, độc đáo ở điểm này. Một con người “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” khi lâm bệnh nặng không thể đi được nữa mới chợt nhận ra “một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì ch­a hề bao giờ đi đến – cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình”. Khi có thể tới được Bến quê một cách dễ dàng thì không nghĩ tới, không tới; khi không thể tới được thì lại “say mê”, “ham muốn” – đó là nghịch lí. Ngịch lí ấy nói lên một sự thật là: có khi, cái người ta mơ ­ớc, khát khao, cái người ta không thể có không phải điều gì to tát, lớn lao mà lại là những điều hết sức nhỏ bé, thường tình. Người ta v­ơn tới chính những giá trị bình dị. Mảnh đất mơ ước ở ngay bến sông quê đây thôi. Cốt truyện của Bến quê thuộc loại “cốt truyện tâm lí”. Tình huống mà ta gọi là nghịch lí trên đây chỉ là nghịch lí trong sự tự ý thức cao độ của nhân vật. Nếu không nhận thức một cách sâu sắc về ý nghĩa đích thực của những cái gần gũi, bình dị, nếu đã không từng đặt chân tới mọi xó xỉnh của trái đất như Nhĩ thì việc ch­a từng đặt chân đến cái bến sông cạnh nhà, việc không thể tới được mảnh đất mơ ước quá đỗi gần gụi kia sẽ không khác thường, không nghịch lí, sẽ lại trôi tuột đi như lẽ thường vẫn thế. Tình huống âý là tình huống để nhân vật bộc lộ cái thế giới bên trong, để “phân tích” niềm “mê say đầy đau khổ” của con người đang tiến dần tới hạn mút cuối cùng của sự sống, để thấy được cái giản dị nhưng bền vững của chân lí nhân sinh.

Nghĩa là sức nặng của toàn bộ thiên truyện dồn cả vào sự thể hiện thế giới nội tâm của Nhĩ. Có thể thấy mạch tâm trạng của Nhĩ diễn ra theo hai chặng: trước và sau khi Nhĩ nhờ anh con trai sang sông.
Tác giả không cho chúng ta biết rằng trước khi lâm bệnh Nhĩ làm nghề gì, địa vị xã hội ra sao nhưng bằng vào chi tiết Nhĩ được đi khắp nơi trên thế giới, có thể đoán định được anh là một người có vị trí quan trọng. Nhưng chính cái thời gian Nhĩ ốm liệt gi­ường mới là quãng thời gian quan trọng, có ý nghĩa lớn hơn cả so với cả một đời bôn ba. Khi đó, anh được gần gũi với vợ con, và nhờ vậy lần đầu tiên Nhĩ thấy được tấm áo vá của người vợ cả đời chịu thương chịu khó hi sinh vì chồng. Tình cảnh ốm đau đã kéo anh về với những gì thường tình nhất của cuộc sống. Anh cảm nhận được cái nhẫn nhục đẹp đẽ của vợ mình qua “tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc thang mòn lõm”. Niềm khao khát được khám phá vẻ đẹp của bờ bãi bên kia sông chỉ có thể được nhen lên, day dứt, mãnh liệt khi Nhĩ sống trong cuộc sống đời thường. Cuộc sống ấy đem lại cho anh một cách nhìn, cách nghĩ mới, chân thực, dung dị hơn, đồng thời thôi thúc anh thực hiện ước vọng cuối cùng của cuộc đời, cái mong muốn vốn dễ dàng với người khác, với chính anh khi còn khoẻ mạnh thì giờ đây trở thành thách thức ghê gớm, thậm chí là không thể.

Anh con trai không thể hiểu được đằng sau cái mong muốn “kì quặc” của người cha sắp từ giã cõi đời là cả một câu chuyện mang ý nghĩa triết lí cuộc đời. Giống như Nhĩ đã từng ch­a bao giờ nghĩ tới mảnh đất bến quê sông Hồng kề cạnh nhà mình. Chính Nhĩ cũng tự nhận thấy “càng lớn thằng con anh càng có nhiều nét giống anh”. Dư­ờng như trong Nhĩ đang diễn ra một cuộc đối chất: cha / con – hiện tại / quá khứ. Con trai anh đang sống những tháng ngày như anh đã từng sống, ham mê những điều như anh từng ham mê và không nhận ra được giá trị của cái bình dị, nhỏ bé nhưng đích thực như anh đã từng không nhận ra.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhiều chi tiết, hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. ở phần đầu truyện là hình ảnh những bông hoa bằng lăng còn sót lại, là màu vàng thau xen lẫn màu xanh non của bãi bồi bên kia sông Hồng, là “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, Khi đứa con trai ra đi để thực hiện hành trình tới bến quê, song hành, Nhĩ cũng thực hiện một hành trình nhọc nhằn, “đau nhức”. Chàng trai trẻ, người có thể thực hiện chuyến sang sông một cách dễ dàng thì đang “chùng chình” bởi những thế cuộc t­ớng sĩ và không thấy được ý nghĩa của hành trình. Người không còn thời gian nữa thì tự mình chỉ thực hiện được một nửa của hành trình dài một mét từ nệm nằm tới cửa sổ! Những khoảng không gian trong mối liên hệ thời gian như là biểu tượng của nghịch lí bừng ngộ, ở những chặng khác nhau của sự thám hiểm cuộc đời:

“Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài chiếc nệm nằm, anh t­ởng mình vừa bay được một nửa vòng trái đất – trong một chuyến đi công tác ở một n­ớc bên Mĩ La-tinh hai năm trước đây. Anh mệt lử. Và đau nhức. Ngồi lại nghỉ một chặng và chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống…

Lũ trẻ tiếp sức cho anh, giúp anh đi nốt “nửa vòng trái đất” còn lại:

“Cả bọn trẻ xúm vào, và rất nư­ơng nhẹ, giúp anh đi nốt nửa vòng trái đất – từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm chục phân”.

Đó là ân huệ mà cuộc đời dung dị, hồn nhiên đem lại cho Nhĩ. Anh h­ướng tới khoảng không gian mơ ước bên ngoài cánh cửa sổ nhờ những bàn tay “chua lòm mùi d­a”. Lại là sự cứu cánh của cái bình dị. “Ngay lúc ấy”, bắt đầu từ lúc Nhĩ được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ, khi hình ảnh của “cái miền đất mơ ­ớc” hiện ra ngay trước mắt anh, trong con người chất chứa nghịch lí ấy diễn ra dòng suy t­ởng sâu sắc. Với ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Minh Châu đã khắc hoạ thành công tâm trạng của nhân vật này.

Hình ảnh con đò ngang với cánh buồm nâu bạc trắng hiện ra qua cái nhìn của con người đang khao khát bến bờ cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là “nhịp cầu” nối tới bến quê mơ ước:… “cái vật mà Nhĩ nhìn thấy trước tiên khi được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ là một cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên. Con đò ngang mỗi ngày chỉ qua lại một chuyến giữa hai bên bờ ở khúc sông Hồng này vừa mời bắt đầu chống sào ra khỏi chân bãi bồi bên kia, cánh buồm nâu bạc trắng vẫn còn che lấp gần hết cái miền đất mơ ước”.

Biết đâu Nhĩ không còn đủ sức để chờ chuyến đò của ngày hôm sau thì sao! Người con trai mang theo “sứ mệnh” thực hiện niềm mơ ước cuối cùng của anh “đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Suốt đời Nhĩ cũng đã từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra được”. Nó có thể bị nhỡ chuyến đò sang sông. Cả đời Nhĩ đã nhỡ chuyến đò ấy. Trong sự lo lắng, khắc khoải vốn thường trực của một người đang sống những giờ phút cuối cùng, Nhĩ đã ngẫm ra: “con người ta trên đ­ờng đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có cái gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Người ta khó có thể làm lại được những gì thuộc về quá khứ, không thể đi lại những chuyến đò đã nhỡ. Cái bến quê rất gần, và không khó khăn gì để đến đó, nhưng nếu cứ mắc vào cái mớ “chùng chình” thế cuộc rất có thể ta sẽ không bao giờ đến được.

Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho hình ảnh Liên – vợ Nhĩ xuất hiện trong dòng suy nghĩ của nhân vật này:… “cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời x­a, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi n­ơng tựa là gia đình trong những ngày này”.

Liên như là hiện thân của cái bến quê mà Nhĩ đã từng không nhận ra. Nhĩ nhìn thấy tấm áo vá của vợ khi anh đã nhận thức được giá trị của cái gần gũi, bình dị. Sự tần tảo, chịu đựng hi sinh ở Liên cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Không phải khi Nhĩ nhận ra những cái đó mới có, nó là vẻ đẹp bền vững muôn đời nhưng chỉ khi Nhĩ ý thức một cách sâu sắc về “bến quê” thì anh mới phát hiện ra nó, cảm nhận được nó. Giống như hình ảnh “từng mảnh vá trên lá buồm cánh dơi in bật trên một vùng n­ớc đỏ” chỉ có thể rõ ràng đến thế khi con đò ngang nối liền với bến quê lại gần bờ bên này, lại gần anh, để Nhĩ có được cảm giác “chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, như­ một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa”.
Truyện khép lại bằng hình ảnh “chuyến đò ngang mỗi ngày một chuyến… vừa chạm vào cái bờ đất lở dốc đứng phía bên này”. Bên này là thị thành, bên kia là bến quê. Bên này chông chênh xói lở, bên kia vững vàng bồi đắp. Sự t­ơng phản này như một lời cảnh tỉnh về nhận thức, ý thức giữ gìn những giá trị bình dị, vẻ đẹp của cái thân tình, gần gũi, để người ta không phải thảng thốt bởi “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”.

Giống hoa bằng lăng nhợt nhạt từ khi mới nở bỗng cháy thẫm lên những bông cuối cùng như xác nhận xót xa trước cái mong manh chảy trôi của tạo hoá. Nhĩ muốn con trai mình không lặp lại con đ­ờng tới những giá trị đích thực như anh đã trải qua. Day dứt, trăn trở như thế âu cũng còn lại được gì đó khi nằm xuống để những tảng đất đổ ập xuống chốn không cùng.

Bình giảng đoạn thơ sau của Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên ,Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Sau một cuộc sống ngắn ngùi và không mấy may mắn, Hàn Mặc Tử để lại cho thơ Việt Nam một số lượng tác phẩm không nhỏ, trong đó có những bài thơ, người này say mê thì người kia không thích. Tuy vậy, cũng có không ít bài thơ, chẳng hạn như bài Đây thôn Vĩ Dạ, được hầu hết mọi người đọc, trải qua nhiều thế hệ, thừa nhận là tuyệt hay, góp phần tạo nên bức chân dung tuyệt đẹp của nhà thơ trong văn học sử nước nhà, ngay từ khổ đầu, Đây thôn Vĩ Dạ đã làm người đọc xúc động đến nao lòng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Nghe nói Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ Hàn Mặc Tử viết đế đáp lại lời thư thăm hỏi của một cô gái xứ Huế khi nhà thơ đang vắng mặt ở Huế để về nhà chữa bệnh (năm 1938). Cũng nghe nói, cô gái Huê ấy tên là Hoàng Cúc, một người đẹp đang được Hàn Mặc Tử có nhiều cảm tình. Lúc ấy, nhà cô Hoàng Cúc ở thôn Vĩ Dạ, một vùng đất rất đẹp ở hữu ngạn sông Hương, hơi chếch phía trước kinh thành. Như người ta vẫn nói. “yêu nhau yêu cả lối đi”, từ có Hoàng Cúc, cái thôn Vĩ Dạ ấy bỗng chốc trở nên tuyệt vời đối với nhà thơ. Cho nên, nghĩ đến cô Hoàng Cúc, tự nhiên là phải nghĩ đến thôn Vĩ Dạ. Cái tên gọi ấy đã bật dậy ngay trong nỗi nhớ để hiện hình thành câu thơ đầu tiên:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu thơ là một câu hỏi. Vì sao mà đạt câu hỏi? Với người đọc thơ, câu hỏi này có giá trị như một lời mời gọi thiết tha, lời mời đến thôn Vì, “về chơi thôn Vĩ”. Hẳn khi đọc được lời thơ thăm hỏi của cô gái thôn Vĩ Dạ. Màn Mặc Tử đã cảm nhận nó như một lời nhắc nhở. trách móc, một lôi mời gọi thân ái bạn bè. Trong câu thơ, nhà thơ không dùng từ “đến”, “đến thăm”, mà dùng ệ,rề‘‘ và “về chơi”. Những tiếng ấy đọc lên nghe đậm đà tình bạn. Huống chi, đối với nhà thơ thì thôn Vĩ là một nơi quen thuộc, đã đến. từng đến nhiều lần, lại đến trong tư cách một người bạn. Nhưng về chơi thôn Vĩ để làm gi? Câu thơ tiếp theo giống như một câu trả lời, là khá bất ngờ:

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Hóa ra về chơi thôn Vĩ không cốt đê thăm ai, mà chỉ để nhìn, nhìn… nắng. Cách nói quanh co đến ỡm ờ! Có điều gì khó nói, có điều gì cố nén lại trong tình cảm ở đây. Tuy nhiên, chính cái chỗ ỡm ờ có nên ấy đã tạo cho người đọc một khoảng thú vị, một hình ảnh tuyệt đẹp về thôn Vĩ Dạ. Cái nét gây ấn tượng đầu tiên của thôn Vĩ khi khách từ xa đến, ấy là những hàng cau cao vút lên trời. Trong câu thơ, lần lượt trải ra từng từ. cũng lần lượt trải ra từng chi tiết: nắng hàng cau – nắng mới lên Nhớ về thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã làm một cuộc đi trong tưởng tượng đề ngắm thôn Vĩ từ xa đến gần. Xa, để nhìn thấy nắng hàng cau; đến gần để nhìn thấy một khu vườn:

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

“Vườn ai” thật phiếm chỉ, nhưng cũng thật là rõ ràng: vườn ai? Còn vườn của ai vào đây nửa. nếu không là cái vườn ấy, cái vườn của ngôi nhà đáng yêu ấy, có con người đáng yêu ấy? (Trong các khổ thơ sau, Hàn Mặc Tử còn phát cái từ “ai ” ra đến mấy lần nữa: vườn ai, rồi thuyền ai, ai biết tình ai. Mối tình vừa thiết tha vừa kín đáo, vừa nồng nàn vừa cố nén, chứa đầy trong những từ “ai” đó). Những từ tiếp theo “vườn ai”, dành cho “vườn ai”, đều đạt độ cao nhất của tình yêu đằm thắm. Vườn, đã “mướt quá”, lại còn “xanh như ngọc”. “Mượt’’ là một từ không phổ biên lắm nhưng đầy sắc thái hơn từ “mượt”. ‘ Mượt” là bóng, nhẵn; nhưng ‘‘mướt” thì còn như loáng nước lên, lấp lánh lên. Chỉ trong tình yêu, nhờ tình yêu, thì nắng hàng cau mới có cái tươi tắn đến thế, lá cây vườn mới có cái màu xanh như thế.

Thật ra, nói đến nắng, đến hàng cau, đến vườn xanh, chú ý của Hàn Mác Tứ không để tả vườn, tả cây hay tả nắng. Cái điều muốn nói ra nhất, cái điều phải nén lại từ đầu khổ thơ, đến bây giờ nhà thơ mới có thể nói ra:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bây giờ, người đọc đã hiếu ra rằng, tất cả những gì nhà thơ đă nói trên đây chỉ là để tạo bối cảnh cho một sự xuất hiện tuyệt đẹp: mội khuôn mặt chữ điền. Mật chữ điền, theo cách cảm nhận của người xứ Huế ngày xưa, là ước lệ của một khuôn mặt đẹp; đẹp mà cao quý, phúc hậu, kín đáo, một vẻ đẹp có sức hấp dẫn từ bên trong. Trong câu thơ của Hàn Mặc Tử, mặt chữ điền được xuất hiện trong một khung cảnh khiến cho nó trở nên thấp thoáng, như ẩn như hiện. Thật ra, trong thực tế, có cái lá trúc nào mà lại che ngang! Hiểu theo nghĩa duy lí, câu thơ có thể có nghĩa là: có một hàng rào trúc được xén ngang tầm khuôn mặt của cô gái đứng trong vườn, che ngang hết một phần khuôn mặt ấy. Tuy nhiên, với người đọc thơ người ta văn muốn hiểu câu thơ theo một nghĩa có vẻ phi lí, rằng những chiếc lá trúc trong vườn, như một sự cố ý, đă che ngang khuôn mặt chữ điền, để tôn nó lên. khiến cho nó thêm kín đáo, thêm duyên.

Người đọc thơ ngày nay, hẳn phải biết ơn Hàn Mặc Tử vì bốn câu thơ đầu cua bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Nhờ ông, nhớ tình yêu đắm say của ông. người đọc có được một bức tranh thiên nhiên đẹp, phải nói là tuyệt đẹp, về một miền đất nước • Hàn Mặc Tử, chỉ bằng một khổ thơ, đã làm cho một tên gọi bình thướng của một thôn nhỏ đã đi vào bất tử trong thơ.

Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt

Kim Lân là một nhà văn tài năng và đặc biệt ông bén duyên với những tác phẩm mang tính chất rất giản dị đặc biệt là các tác phẩm về những số phận khó khăn. Tác phẩm “Vợ nhặt “ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu mà trong đó tác giả đưa ra cho ta những cách nhìn rất chân thực về người nông dân trong cảnh đói nghèo ,tù túng. Tác phẩm đã thể hiện rát rõ hai giá trị,giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực rất sâu sắc.
 Với tư cách là một nhà văn của nông thôn, Kim Lân là người rất hiểu người nông dân, lại là người trong cuộc của cái nạn đói khủng khiếp này, Vợ nhặt được tái hiện là một bức tranh cô đúc mà đầy đủ, khái quát mà cụ thể, khắc sâu thành ấn tượng rõ nét.
 Qua tác phẩm ta có thể thấy bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói "bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ", "bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma", và sau đó là "người chết như ngả rạ", "thây nằm còng queo bên đường", "không khí vẩn lên mùi gây của xác người", rồi "mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt" và "tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya"…như thế cái đói đó đã tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, bủa vây và đe dọa số phận từng con người, không trừ một ai.
 Tác phẩm cũng vẽ ra “Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói: "những khuôn mặt hốc hác u tối trong "cuộc sống đói khát", "không nhà nào có ánh đèn, lửa", đến cả trẻ con cũng ngồi ủ rủ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích. Trong gia đình Tràng thì bà cụ Tứ già lão không làm được gì, anh con trai đẩy xe bò thuê để kiếm sống qua ngày, người con dâu "áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trũng hoáy, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên"… Số phận của họ có khác gì "cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” và bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám "đắng chát và nghẹn bứ trong cổ"…
Vợ nhặt của Kim Lân còn là niềm khát khao tới cháy bỏng với tổ ấm gia đình trọn ven. Niềm khát khao tổ ấm gia đình được thể hiện chân thực và có chiều sâu qua tâm trạng nhân vật Tràng :từ trên bờ vực thẳm của cái chết, họ đã dám khát khao đến tổ ấm gia đình, đến một cuộc sông đích thực và cao đẹp của con người. Cho nên, tuy "chợn" khi nghĩ "thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng", nhưng Tràng vẫn "Chậc, kệ!" và dẫn vợ về nhà.  Trong tác phẩm Vợ nhặt “Anh vừa xấu hổ lại vừa tự hào khi đưa vợ đi qua xóm ngụ cư, bởi vì có "một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy" dâng lên "ôm ấp, mơn man khắp da thịt..,"; và nhất là, trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Tràng thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn: "Hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng", "một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng", "bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này". Đây là đoạn văn đầy cảm hứng nhân đạo với các nhân vật của ông. Chính vì yêu thương chính vì khát khao có một mái ấm gia đình nên con người ta biết quí trọng những thứ xung quanh hơn. 
Ở “Vợ Nhặt” giá trị hiện thực tuy chưa rõ nét nhưng đã hiện ra ở cuối truyện trong ý nghĩ của Tràng: "cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm". Đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ của Việt Minh. Đây là hiện thực nhưng cũng là ước mơ của những người giống như Tràng.
 Không những truyện thể hiện giá trị hiện thực mà còn là giá trị nhân đạo sâu sắc. ở đây chúng ta có thể nhận ra tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những người nghèo khổ được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bà cụ Tứ đối với con trai và con đâu. Vượt lên tình thương con – nhất là đổi với người đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới – đó là tình thương yêu giai cấp của những người nghèo khổ. Bà cụ tứ đã gọi thị là "con", tôn trọng thị, nói chuyện thân mật với thị ngay đêm đầu gặp mặt. Và sáng hôm sau, bà cụ tứ cố tạo ra niềm vui cho con trai và con dâu vui. Trong tác phẩm” Chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới. Không chỉ là tấm lòng người mẹ thương con mà trong tình thương ấy còn có cả đức vị tha cao cả.
Truyện kết thúc với một cái kết đầy gợi mở đã tạo cho người đọc những cảm hứng trong tìm tòi và chiêm nghieemk. Dưới ngòi bút tài hoa của tác giả Kim Lân chúng ta có cơ hội đám chìm trong không gian ấy, và nhận ra những vẻ đẹp của hai giá trị lớn: giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả

Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt (Tuyển chọn)

Trong nền văn học VN hiện đại, Kim Lân là một nhà văn có nhiều đóng góp tích cực về thể loại truyện ngắn và đề tài nông dân. Mặc dù trong hai giai đoạn sáng tác ông viết không nhiều tuy nhiên khi nhắc đến ông người đọc không thể không nhớ đến các truyện ngắn như: Làng, Đứa con người vợ lẽ, Vợ nhặt….
Trong đó có thể nói “Vợ nhặt” là  truyện ngắn đặc sắc. Qua câu chuyện Tràng tình cờ nhặt  người đàn bà về làm vợ trong hoàn cảnh XH đang diễn ra nạn đói khủng khiếp Kim Lân đã đặt ra những vấn đề hết sức sâu sắc. Đó là giá trị nhân phẩm của con người và những phẩm chất tích cực của những người lao động nghèo khổ trong hoàn cảnh XH tối tăm.    

Tràng là một thanh niên có thân phận và địa vị XH thấp kém. Anh có một ngoại hình xâu, quê kệch với đôi mắt nhỏ tí và hai quai hàm bạnh ra. Anh lại mồ côi cha, sống với bà mẹ già trong một ngôi nhà rúm ró, xiêu quẹo.   Bản thân anh cũng không có một nghề nghiệp vững chắc, ổn định. Hằng ngày anh gò lưng kéo xe bò chở thóc mướn để kiếm miếng ăn nuôi thân và nuôi bà mẹ già. Anh lại thuộc hạng dân ngụ cư, hạng dân lép vế nhât trong hệ thống làng xã VN trước kia.
Với thân phận và địa vị như thế theo lẽ thường cuộc đời Tràng rồi sẽ tàn lụi trong cảnh cô đơn, bần cùng nói chi đến chuyện hạnh phúc lứa đôi. Bởi lẽ không một người đàn bà nào lại dại dột gắn cả cuộc đời mình với một người thanh niên như vậy. Thế nhưng trong diễn biến câu chuyện Tràng lại có vợ hay nói đúng hơn là tình cờ nhặt được vợ không phải mất tiền tổ chức nghi lễ cưới hỏi theo lẽ thường tình.
Tràng gặp người đàn bà ấy vỏn vẹn chỉ hai lần.  Lần thứ nhất khi kéo xe bò vào dốc tỉnh thấy mấy chị con gái đang ngồi vêu ra, Tràng cất giọng hò chơi một câu cho đở mệt: “Muốn ăn cơm trắng với giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh ni”. Tràng không có chủ tâm chọc ghẹo cô nào nhưng không ngờ một chị cong cớn hỏi lại Tràng: “Này, nhà tôi ơi nói thật hay nói khoác đấy?” Rồi chị ta lon ton chạy lại giúp Tràng đẩy xe bò lên dốc.  Lần thứ hai khi Tràng đang ngồi uống nước ở cổng chợ tỉnh, người đàn bà xuất hiện đột ngột trước mắt Tràng và mắng anh là “điêu”. Ban đầu Tràng không nhận ra chị là ai khi người đàn bà gợi nhắc Tràng mới nhớ ra. Và bất đắc dĩ Tràng phải mời chị ăn trầu nhưng chị không chịu ăn trầu mà lại đòi ăn thứ khác. Tràng đành mời liều: “Muốn ăn gì thì ăn”. Thế là chị xà xuống ăn một chập hết bốn bát bánh đúc mà chẳng nói năng gì. Chị ăn xong Tràng ổm ờ nửa đùa nửa thật, tán tỉnh mà như nói chơi: “Này nói đùa chớ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Nhưng không ngờ người đàn bà đồng ý . Thế là Tràng và người đàn bà nên vợ nên chồng.
Tràng có vợ là việc khác thường ngoài sức tưởng tượng của mọi người từ người dân xóm ngụ cư đến bà cụ Tứ và cả chính bản thân Tràng. Càng khác thường hơn nửa vì sự kiện ấy diễn ra trong cảnh nạn đói và nạn chết đói xảy ra khốc liệt. Bao gia đình ở Nam Định, Thái Bình phải rời bỏ quê hương dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngỗn ngang khắp lều chợ, người chết đói như ngã rạ. Không buổi sáng nào, người trong làng đi chợ đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Nạn đói đã chẳng buông tha ai.
Trong hoàn cảnh nạn đói và nạn chết đói đang hoành hành, một thanh niên có thân phận và địa vị xã hội thấp kém như Tràng mà vẫn nhặt được vợ nhờ vài bát bánh đúc, sự kiện đó đã làm nối bật lên chủ đề của tác phẩm đó là vấn đề nhân phẩm của con người trong hoàn cảnh xã hội tối tăm. Chủ đề vừa nêu có ý nghĩa phê phán xã hội gây gắt.
“Vợ nhặt” không chỉ được viết bằng cảm hứng tố cáo vạch tội các thế lực thống trị, tác phẩm còn toát lên tinh thần nhân đạo sâu sắc thể hiện qua cái nhìn phát hiện và khẳng định những phẩm chất tích cực của người lao động trong hoàn cảnh xã hội tối tăm.
Trước hết đó là khát vọng về hạnh phúc đôi lứa của người lao động cùng khổ. Đọc lướt qua truyện chúng ta thấy việc Tràng và người đàn bà về chung sống với nhau diễn ra hình như là hết sức ngẫu nhiên tình cờ nhưng nếu ở cả hai con người khốn khổ ấy không tiềm ẩn nổi khát khao về hạnh phúc lứa đôi thì chắc hẳn họ đã không nên vợ nên chồng và cuộc gặp gỡ ấy có thể dẫn đến một cuộc mua bán đổi chát giữa  kẻ có cái ăn trong tay và một người đang đói khát. Chính khát vọng hạnh phúc đã khơi dậy ở họ những tình cảm mới lạ.
Trên đường về nhà mặt Tràng có vẻ gì phớn phở khác thường, anh tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. Có lúc Tràng quên đi cuộc sống tối tăm ê chề hằng ngày, quên cả cái đói đang đe doạ. Anh cảm thấy một cái gì mới mẽ lạ lắm nó ôm ấp mênh mang khắp da thịt. Còn người đàn bà mặc dù chị có vẻ khó chịu trước ánh mắt tò mò và những lời true chọc trong xóm ngự cư nhưng vẫn không giấu được vẻ e thẹn.
Đặc biệt là sau đêm chung sống với nhau. Tràng và người đàn bà như được lột xác biến thành hai con người khác hẳn. Người đàn bà thì trông hiền hậu đúng mực còn Tràng thì cảm thấy một niềm vui sướng phấn chấn tràng ngập trong lòng. Hơn nữa anh còn ý thức được rằng mình là một người chồng, người chủ gia đình phải có trách nhiệm gánh vác.
Rõ ràng là đằng sau vẻ tình cờ ngẫu nhiên xoay quanh việc Tràng nhặt được vợ thì chính khát vọng hạnh phúc lứa đôi đã thúc đẩy Tràng và người đàn bà đến với nhau và nên vợ nên chồng bất chấp sự bần cùng và nạn đói đang đè nặng lên xã hội.
Đáng lưu ý hơn nữa dù sống trong cảnh tối tăm thê thảm nhưng người lao động vẫn thể hiện một tấm lòng nhân hậu vị tha cao cả. Điều đó thể hiện tập trung qua thái độ suy nghĩ của bà cụ Tứ đối với người đàn bà xa lạ mà Tràng nhặt về nhà làm vợ.
Theo lẽ thường trong hoàn cảnh nạn đói đang đe doạ từng ngày, từng giờ, bà cụ Tứ có đủ lí do ngăn cấm và xua đuổi người đàn bà kia. Bởi vì nếu bà đồng ý cho người đàn bà về chung sống với con mình thì điều đó cũng có nghĩa là rước về nhà thêm một miệng ăn, rước cái đói về nhà. Thế nhưng bà cụ Tứ lại không làm như vậy. Trái lại, bà cụ còn cảm thông, tủi hổ cho chị và vui vẻ chấp nhận chị làm con dâu: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình mà con mình mới có được vợ”. Không xua đuổi hắt hủi một con người cùng đường khốn khổ mà còn xem như là một ân nhân, tấm lòng nhân hậu vị tha của bà cụ Tứ thật là cao cả hiếm thấy.
Cùng với khát vọng hạnh phúc là khát vọng đổi đời, khát vọng vùng lên giành lấy áo cơm, giành lấy sự sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo khổ. Khát vọng chính đáng ấy được gợi mở khéo léo qua thái độ ngạc nhiên của vợ Tràng khi nghe bà cụ Tứ nói đến chuyện đóng thuế. Đặc biệt là hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện ra trong suy nghĩ của Tràng.
Truyện thành công với tình huống truyện độc đáo, tài năng thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế và cách dùng ngôn ngữ lời ăn tiếng nói của người dân lao động. “Vợ nhặt” được xem là một thành công lớn của nhà văn Kim Lân.
“Vợ nhặt” là  truyện ngắn đặc sắc của Kim Lân lấy đề tài về nạn đói 1945 nhưng truyện được sáng tác sau CM tháng Tám nên Kim Lân đã có một khoảng thời gian cần thiết đề suy ngẫm nhìn nhận vấn đề và dụng công nghệ thuật. Nhờ đó Kim Lân đã nêu lên được những vấn đề XH, con người một cách sâu sắc dựa trên  tình huống truyện độc đáo kết hợp với nghệ thuật kể chuyện linh hoạt và ngòi bút miêu tả tinh tế.

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (PHẦN I)

I. TIỂU SỬ HỒ CHÍ MINH
SGK
II. QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC VĂN HỌC
- Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng: Văn chương trong thời đại cách mạng phải có chất thép “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người lại một lần nữa nhấn mạnh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
- Người luôn yêu cầu tính chân thực và tính dân tộc: Người khuyên các nghệ sĩ phải bớt đi chất mơ mộng, tăng thêm chất hiện thực. Phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn. Phải diễn đạt giản dị, dễ hiểu, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Người luôn quan tâm tới Đối tượng thưởng thức: đó chính là quần chúng. Trước khi viết, Người luôn đặt ra và trả lời các câu hỏi: Viết cho ai (Đối tượng thưởng thức), Viết cái gì (Nội dung), Viết để làm gì (Mục đích viết), Viết như thế nào (Cách viết).
III. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
1. Văn chính luận:
Nội dung: Cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân, tố cáo tội ác của thực dân, đế quốc.
Tác phẩm tiêu biểu:
- Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Tác phẩm có giá trị hiện thực sắc sảo là bản án tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa..
- Tuyên ngôn độc lập (1945): Văn kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại: khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa; là áng văn chính luận mẫu mực.
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quí hơn độc lập tự do (1966). Đó là lời hịch truyền đi vang vọng khắp non sông làm rung động trái tim người Việt Nam yêu nước.
2. Truyện kí:
Nội dung: Vạch trần bộ mặt gian xảo, tố cáo tội ác của thực dân, phong kiến, kêu gọi tinh thần đấu tranh của nhân dân.
Tác phẩm:
- Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922)
- Vi hành (1923)
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu.
3. Thơ ca:
- Nhật kí trong tù : phản ánh bức tranh đen tối của xã hội Trung quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch. Tấm lòng nhân đạo bao la “sống cho tất cả chỉ quên mình”. Đặc biệt là bức chân dung tự hoạ về mặt tinh thần của người tù vĩ đại. Các bài tiêu biểu: Chiều tối, Lai Tân, Người bạn tù thổi sáo…
- Thơ Hồ Chí Minh và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh: cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng và thể hiện tinh thần lạc quan, yêu nước của Hồ Chí Minh.
IV. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
Nhìn chung, mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện kí, đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng độc đáo và hấp dẫn.
Văn chính luận: thường ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.
Truyện kí: Nghệ thuật trào phúng sắc bén. Kết hợp được chất thâm thúy của phương Đông và nét hài hước, hóm hỉnh của phương Tây. Tình huống truyện độc đáo. Truyện kí có chất hiện đại, tính chiến đấu mạnh mẽ,
Thơ ca: thể hiện sâu sắc nhất phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh .
- Thơ tuyên truyền cách mạng: đơn giản, dễ thuộc, hướng về đại chúng rất thiết thực, gần gũi đời sống cách mạng.
- Thơ nghệ thuật: cổ thi hàm súc: có sự kết hợp giữa chất cổ điển và nét đẹp hiện đại, giữa chất trữ tình và chất thép.
GV PHAN DANH HIẾU

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (PHẦN TÁC PHẨM)

I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Hoàn cảnh ra đời
- Tình hình thế giới: Nhật đầu hàng đồng Minh, Chiến tranh thế giới lần thứ II đến hồi kết thúc.
- Tình hình trong nước: CM tháng Tám thắng lợi, chính quyền khắp cả nước về tay nhân dân.
- Ngày 26/8/1945 HCM từ chiến khu Việt Bắc trở về HN. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản TNĐL. Lúc này phía Bắc có 20 vạn quân Tưởng, phía Nam có 18 vạn quân Anh đang tiến vào tước vũ khí quân đội Nhật, núp sau lưng chúng là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đang lăm le xâm lược nước ta. Pháp rêu rao rằng: “Đông Dương là của Pháp nay Nhật đầu hàng đồng minh thì Đông Dương phải trả lại cho Pháp”.
- Có thể nói: Tuyên Ngôn Độc Lập ra đời trong tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”.
- Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đọc bản TNĐL, trước hàng vạn đồng bào, khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa.
2 . Mục đích
- Tuyên bố nền độc lập của dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam mới.
- Ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước Thực dân, Đế quốc.
3. Đối tượng:
- Hướng tới toàn thể quốc dân đồng bào trong nước và nhân dân thế giới đặc biệt là Pháp và Mỹ.
4. Giá trị của Tuyên ngôn độc lập.
- Giá trị lịch sử: Tuyên Ngôn Độc Lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn đánh dấu bước ngoặt mới của Cách mạng Việt Nam.
- Giá trị văn học: Bản tuyên ngôn là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục – là áng văn bất hủ của dân tộc Việt Nam.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản TN:
Mở đầu, Người trích dẫn hai bản tuyên ngôn độc lập của Pháp và Mỹ:
- Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776): “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng...” (HS đưa dẫn chứng vào)
- Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791): (HS đưa dẫn chứng vào)
Ý nghĩa của viêc trích dẫn:
- Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương. Đó chính là thành công của nghệ thuật “Gậy ông đập lưng ông” dùng chính lời lẽ của kẻ thù để đánh lại chúng. Cái hay là ở chỗ là: Bác một mặt như ngợi khen, một mặt lại hạ bệ chúng.
- Mặt khác người đọc có thể thấy Bác đã đặt ba cuộc Cách mạng, ba nền độc lập, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau. Khẳng định tư thế đầy tự hào của một dân tộc độc lập và có quyền để hưởng tự do và độc lập.
- Từ việc trích dẫn trên Bác đã đi đến một lập luận sáng tạo: Suy rộng ra điều đó có nghĩa là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, dựa trên hai bản tuyên ngôn nói về quyền lợi của con người Bác đã nâng lên thành quyền lợi của dân tộc. Nghĩa là bản Tuyên Ngôn của Việt Nam còn cao hơn cả hai bản Tuyên Ngôn của Pháp và Mỹ.
Tóm lại: Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản Tuyên Ngôn, nêu cao chính nghĩa của ta. Đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc. Đây cũng là cơ sở để Người vạch tội chúng trong phần tiếp theo.
2. Cơ sở thực tế của bản Tuyên Ngôn:
Bác đã nêu lên lý lẽ và lập luận hết sức thuyết phục về mặt pháp lý và thực tế nhằm bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc thực dân. Để vạch trần luận điệu về công lao “khai hóa” của Pháp đối với Đông Dương, Bác đã nêu rõ “Những hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” của chúng trong 80 năm thống trị nước ta về hai phương diện: Chính trị và Kinh tế.
- Pháp kể công “Khai hóa”, Bác vạch trần tội ác của chúng về chính trị: chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào…Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.. ..Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
- Chưa hết, về mặt kinh tế: chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Ở hai đoạn văn trên, cái tài tình của Hồ Chủ Tịch là nghệ thuật lập luận: câu văn lặp cấu trúc, phép điệp liên tục “chúng tuyệt đối... chúng thi hành...chúng lập ra...chúng tắm các cuộc khởi nghĩa... chúng dùng thuốc phiện...chúng cướp không...” tạo nên một liên hoàn lời, tố cáo mạnh mẽ, đanh thép khiến chúng “không thể chối cãi” và trở tay không kịp. Mặt khác, Bác cũng tranh thủ quan tâm đến giai cấp tư sản, công nhân, nông dân khơi dậy tình đoàn kết hữu ái giai cấp. Đặc biệt từ tội ác trên của thực dân bác đanh thép kết án chúng đã gây ra cái chết thảm thương cho hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc vào nạn đói năm 1945.
Pháp kể công “Bảo hộ”: bảo hộ nghĩa là bảo vệ nhưng chúng đã không làm được. Bác đã tố cáo tội ác của chúng: Tội ác trong 5 năm (1940 – 1945)
- Trong năm năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Đó là mùa thu năm 1940, Nhật xâm lăng Đông Dương để mở rộng căn cứ đánh Đồng Minh... bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng mở cửa nước ta rước Nhật. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi Nhật tước khí giới của quân đội Pháp, bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là quỳ gối đầu hàng.
- Bác vạch trần thái độ nhục nhã của Pháp: quỳ gối đầu hàng, bỏ chạy...
- Như vậy là chúng đã phản bội đồng minh, không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật, thậm chí thẳng tay khủng bố, giết nốt tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng.
Đó là lời khai tử dứt khoát cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Pháp đối với nước ta ngót gần một thế kỉ.
3. Những tự hào của Cách mạng Việt Nam
- Ta luôn đứng về lập trường chính nghĩa “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Việt Nam khoan hồng với kẻ thù bị thất thế: giúp người Pháp chạy qua biên giới, bảo vệ tài sản và tính mạng, của cải cho họ.
- Láy đi láy lại hai chữ “Sự thật” nhằm nhấn mạnh thắng lợi to lớn của Cách mạng ta khi đứng về phe Đồng minh chống phát xít, đồng thời Bác cũng dứt khoát bác bỏ sự có mặt của Pháp trên đất nước ta cũng có nghĩa là Pháp không có cớ gì để quay trở lại Việt Nam :“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải là của Pháp nữa... Sự thật là nhân dân ta đã lấy lại Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải là tay Pháp”.
- Thắng lợi to lớn của Cách mạng Việt Nam là: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Chế độ Dân chủ Cộng Hòa từ đó được ra đời.
4. Phủ định chế độ thuộc địa của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc
- Phủ định dứt khoát, triệt để: “Tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”
- Cuối cùng Bác đưa ra Lời tuyên bố độc lập trước thế giới : Lời tuyên bố thể hiện lí lẽ đanh thép vững vàng của Người về quyền dân tộc đồng thời thể hiện khát vọng tự do của cả dân tộc. Điều đó thể hiện qua giọng văn hào hùng mãnh liệt đầy niềm tin: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
III. NGHỆ THUẬT
- Dùng nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”
- Ngôn ngữ sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén.
- Lối văn biền ngẫu, nhịp điệu rắn rỏi, mạnh mẽ, đanh thép.
Thầy PHAN DANH HIẾU

KÝ TÚC XÁ CÓ MA - Truyện ngắn của Phan Danh Hiếu

Tân sinh viên nên đọc
KÝ TÚC XÁ CÓ MA
Hồi mới ra trường, tôi xin được vào dạy hợp đồng tại một trường huyện. Đó là một ngôi trường cũ kỹ và nghèo nàn xa thành phố tới gần bảy mươi cây. Tôi ở ký túc xá của trường. Dãy ký túc xá có tất cả mười phòng với mười lăm nhân khẩu. Có hai hộ gia đình. Tám thầy cô trẻ. Người dạy được năm, sáu năm. Kẻ mới vào nghề. Có người thì ở đây ngót nghét trên hai mươi năm. Các giáo viên khác thì nhà trong thôn. Buổi đi dạy, buổi ở nhà tăng gia sản xuất. Ký túc xá của chúng tôi vui nhất là những buổi sáng vì có học sinh học. Buổi chiều thì im ắng và buồn nhất là vào lúc chạng vạng tối cho đến khi đi vào giấc ngủ. Nghe nói thời chiến tranh chống Mỹ có hai quả bom đã thả xuống nơi này.
Thầy Tài giáo viên bộ bôn Toán là người ở đây lâu nhất. Đó là từ năm 1986 khi ngôi trường được dựng lại trên nền hoang phế của chiến tranh. Thầy Tài chưa có gia đình. Dân Nam chính gốc. Thầy chinh phục lũ giáo viên trẻ chúng tôi bằng đờn ca tài tử. Đàn thì lửng tửng, giọng thì lè phè nhưng nghe man man cũng thấy hay hay. Thầy kể chuyện ma thì dù có anh bạn nào gan đến mấy cũng phải cửa đóng then cài trước khi đi ngủ. Ban đêm, sau khi cơm ai nấy dùng. Chúng tôi thường kéo nhau qua phòng thầy tụ họp. Cứ như là đi nghe ngàn lẻ một đêm. Những chuyện tâm linh thầy kể có khi đang nghe thì sợ, nghe xong lại thấy bật cười. Có chuyện nghe xong thì xin ngủ lại phòng thầy chứ không dám về.
===================================
Thầy kể, ngày làm lễ động thổ ngôi trường này. Mây gió vần vũ, trời u ám nhưng không một hạt mưa. Khi đào móng và san ủi đất để xây dựng người ta khai quật lên rất nhiều đoạn xương người, nhiều hài cốt còn nguyên vẹn, nhiều chiếc khăn quàng đỏ còn chưa kịp phân hủy. Nhang khói thắp cả ngày, đến đêm vẫn chưa cháy hết. Bàn tay thầy cải táng không biết bao nhiêu là hài cốt của rất nhiều những con người đã nằm xuống nơi đây. Trong đó có đồng nghiệp, có biết bao khuôn mặt học trò. Rồi từ đống hoang phế đổ nát đó. Một ngôi trường mọc lên. Rồi tiếng cười, tiếng nói lại rộn ràng. Sự hồi sinh trên nền đất cũ mang lại biết bao nhiêu sự sinh sôi.
Nhưng cũng tại mảnh đất này có bao nhiêu chuyện đau lòng đã xảy ra. Có người tin. Có người không tin. Có người nửa tin nửa ngờ. Nhưng những câu chuyện có thật thì vẫn mãi là sự thật. Thầy kể rằng: trong đợt di dời những hài cốt của những con người xấu số nằm lại trên mảnh đất này có gặp một chuyện lạ. Số là khi chiếc máy múc vừa múc xong công đoạn cuối của hố móng thì thấy có ba cái hũ sành mốc xỉn. Bê lên thấy rất nặng. Nhiều người dân hiếu kỳ đổ vào xem. Ai cũng thấy là lạ là vì chưa bao giờ người ta nhìn thấy những vật dụng như thế bao giờ. Có anh cán bộ xã làm bên ban văn hóa sau một hồi nghiên cứu đã kết luận “Hũ này có từ thời phong kiến, thường dùng để cải táng người chết. Chớ có đụng vào”. Mọi người về hết. Mấy anh thợ hồ lại nghĩ khác “Táng người chết thì chắc phải có vàng”. Thế là họ đập lần lượt ba cái hũ sành ấy. Chỉ thấy toàn đất đen. Rồi chẳng biết mấy ông bàn nhau cái gì mà lấy tấm nilon cũ buộc tất cả lại rồi chôn vơ vất ở đâu đó.
Vài ngày sau thì chuyện xảy ra. Mấy chiếc xe đang hoạt động bỗng nhiên chết máy. Sửa cả hai ngày trời mới được. Tay thợ hồ đập vỡ ba cái hũ tự dưng bị té gãy tay, mắt lồi ra, chết vài hôm sau đó. Cái lán dựng tạm cho công nhân ở, bốc cháy thiêu rụi hết đồ đạc. Nhà Ông chủ tịch xã chết một lúc hai con bò. Hai tháng sau, những viên gạch đầu tiên bắt đầu thi nhau cao lên thì tường sập. Công nhân bị thương. Rồi lại xây. Xây lại sập. Những chuyện trùng hợp ấy nếu sắp xếp lại cho khách quan thì thấy rằng sự lạ bắt đầu từ ba cái hũ sành. Nhưng mà trường thì vẫn phải xây. Cũng may có sư trụ trì một ngôi chùa nhỏ trong làng làm ba lá phép gì đó mà thi công từ đó được thuận lợi.
Sáu tháng sau thì trường dựng xong, lại đúng vào dịp khai giảng. Ngày khai giảng, có cả giám đốc Sở về dự, cắt băng khánh thành, cờ đỏ rực, loa đài sập sình. Lễ tắt. Thầy cô được bữa ăn trưa thịnh soạn nhất trong thời bao cấp. Ăn uống xong độ hơn một giờ chiều. Ai nấy đều về nhà. Hồi đó ký túc xá mới được năm thầy cô. Có bác bảo vệ là thương binh ¼ xin vào làm. Bác tên Thăng, người ở ngay trong làng. Khi mọi người về hết, rượu ngấm, bác đóng cửa kéo giấc dài. Nghe đâu đang ngủ thì chợt có tiếng gõ cửa dồn dập. Tưởng có ai đó bỏ quên đồ quay lại lấy. Bác ngồi dậy thì không nghe tiếng gõ cửa nữa. Mở cửa, không thấy ai cả ngoài một dãy hành lang dài và mấy cây bàng thưa thớt lá. Trời đứng gió. Bác lại đóng cửa ngủ. Vừa chợp mắt lại có tiếng người đẩy cửa bước vào. Tiếng chân người đi rất nhẹ. Bác hé mắt nhìn thì thấy một người đàn bà. Mái tóc lòa xòa che nửa khuôn mặt. Đôi chân đen đủi trong chiếc quần lụa rách tả tơi. Choàng tỉnh, bác quát hỏi “ Ai đó ?”. Bóng người vụt mất như có ai đó vừa đi qua một giấc mơ. Cánh cửa đóng sầm một cái. Ngồi dậy, hơi bàng hoàng nhưng bản lĩnh của một người lính Trường Sơn làm bác bình tâm nhanh chóng. Có tiếng người lào xào ngoài cửa sổ khép hờ. Bác nhẹ nhàng rời căn phòng. Bên ngoài trời đang nắng dữ. Đồng hồ mới chỉ hai giờ chiều. Nhìn sang dãy ký túc, ai cũng đang đóng cửa nghỉ trưa.
Lại nói dãy ký túc. Sau hơn mười ngày khai trường. Có đôi vợ chồng thầy cô mới chuyển về. Cô Lành đang mang bầu. Chồng cô là thầy Thiết là thương binh. Phòng đôi vợ chồng này ở cuối dãy, nơi có cây xà cừ cổ thụ với những rễ cây thòi lên mặt đất với những hình thù kỳ dị. Có rễ hình mặt người, có rễ hình em bé sơ sinh, có rễ như con trăn khổng lồ chạy lộ thiên khoảng hơn mười mét. Ở đó, chẳng hiểu sao người ta thắp nhang nhiều. Hôm đầu tiên về, ký túc xá có làm bữa cơm liên hoan đón khách quý. Mang tiếng là làm cơm đón người mới nhưng thầy Thiết là chủ chi. Mấy anh em chỉ mất công đi chợ, nấu nướng. Tối đó, anh em đánh chén li bì. Tội mấy chị chờ dọn dẹp, díu cả mắt rồi mà mấy ông vẫn chưa chịu tha. Hết đờn ca tài tử lại chuyển sang đọc thơ, hết đọc thơ lại kể chuyện chiến trường, nghe phát ớn. Bác Thăng chào mọi người để về phòng bảo vệ. Mọi nguời không chịu lại bắt uống thêm mấy ly. Chính xác là bảy ly vì có lệ là “Vào ba ra bảy”. Bác ra về, mọi người không tiễn. Chiếc đèn pin tù mù trong đêm như một đốm sáng nhỏ nhoi theo từng bước chân cao thấp của bác (Bác Thăng bị cụt mất một chân phải thay bằng chân giả). Mấy chị nhìn theo ái ngại, trách mấy ông chơi ác, ép người quá đáng. Đang vui, bỗng nghe tiếng chân người chạy rầm rập ngoài hành lang ký túc. Tiếng quát tháo ì xèo nghe như bên tai mà cũng như xa xôi lắm. Mấy anh em chạy ra xem nhưng hành lang dài tối thui, bấm đèn pin lên quét khắp lượt, cả sân trường nữa nhưng tịnh không một bóng người. Nhìn sang phía phòng bảo vệ phía xa xa. Chỉ thấy màn đêm đặc cóng. Không gian lặng ngắt như tờ. Phía trên những vòm cây tối sẫm, le lói vài ngôi sao nhấp nháy. Bấy giờ ai cũng nhìn đồng hồ. Lúc đó là hơn một giờ sáng. Thế là tan cuộc vui. Ai nấy đều trở về phòng mình. Cửa chốt then cài. Cả đêm không chợp mắt được dù rượu ngấm bừng bừng.
Sáng sớm ra. Ai nấy đều bán tín bán nghi những việc lạ hồi đêm. Người nói chắc là gió nổi. Người nói là chắc tại mấy đứa học trò lén lên đây trêu các thầy. Nhưng người ở làng này, ban đêm người lớn còn không dám ra khỏi nhà nói chi bọn trẻ. Nhưng thật kỳ lạ, dãy hành lang có rất nhiều dấu chân trẻ con dính đầy bùn đen. Dù đem nước dội nhiều lần cũng không hết những vết chân in lên nền gạch đỏ. Bác Thăng thì kể, hồi đêm bác nằm mơ thấy có ba người ăn vận kì lạ, một nam và hai nữ, mỗi người cầm một sợi dây thừng cứ đè bác ra mà trói nghiến. Sợ quá bác dãy giụa và vớ được con dao rồi vung tay chém. Một người bắt được tay bác và giằng được con dao. Nó chém mạnh xuống người bác nhưng bác tránh được còn con dao thì bổ trúng cạnh bàn. Ba người kia bỏ đi. Lúc bác tỉnh dậy, vặn to ngọn đèn lên thì thấy trên nền đất có nhiều sợi tóc dài ngắn rơi rụng. Con dao bổ củi cắm lên cạnh bàn. Sờ vào thấy còn nóng như có bàn tay ai đó vừa cầm vào. Cả đêm bác cũng không ngủ được. Nghe chuyện, thầy Tài rùng mình. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi mới có cái cảm giác rờn rợn ấy (thầy Tài nói mà y như đang ở cái khoảnh khắc của mấy mươi năm về trước). Chúng tôi ngồi nín re.
===================
Hai tháng sau, hai cô giáo ở phòng cũng gặp chuyện lạ. Ban đêm đang ngủ cứ nghe tiếng ai rù rì to nhỏ ở góc phòng. Mới đầu tưởng gió. Lâu sau im lặng lắng nghe thì đúng là tiếng người. Các cô choàng dậy, châm đèn rọi khắp căn phòng mười hai mét vuông. Chẳng thấy có ma nào. Mà cứ hễ đặt lưng là lại nghe tiếng cười nói lao xao. Có đêm các cô đánh bạo cầm dao cứ nhằm vào chỗ góc tường có tiếng người phát ra mà phang vài nhát. Từ đó chẳng nghe những âm thanh đó nữa. Bẵng đi vài tháng sau, một đêm đang ngủ. Các cô thấy cánh cửa mở tung, thấy có một đứa học trò bận áo trắng đi vào. Trên tay cầm vật gì đó đen ngòm. Biết không phải là người, có cô hét toáng lên, cô kia thì xỉu tại trận. Ký túc đang đêm ồn ào. Ai cũng chạy bổ qua. Cô kia líu ríu chỉ tay về phía hàng rào. Nhưng chẳng ai nhìn thấy gì ngoài bóng trăng sáng lờ nhờ hư ảo. Sáng ra, cô kia ra bờ rào xem chỗ hồi đêm bóng người chạy qua, thì thấy có một miếng vải rách và chiếc khăn quảng đỏ nhàu bẩn vướng trên hàng rào. Và cuối cùng thì hai cô xin nghỉ việc, từ đó chẳng biết họ đi đâu, ở đâu nữa.
Câu chuyện của thầy Tài dừng lại giữa khuya bởi có tiếng gió đập vào cửa và vài hạt mưa rơi lộp bộp trên mái tôn. Tôi đi ra khép vội cánh cửa mà tim cứ đập liên hồi. “Thế từ ngày thầy về đây thầy có gặp ma không ?”. Tôi hỏi. Nhiều anh em cũng nhìn thầy Tài với ánh mắt dò hỏi. Chậm rãi đưa điếu thuốc lên môi. Thầy khẽ thở dài và bắt đầu kể.
Hồi đó, người tôi kính nhất là bác Thăng, không phải vì chúng tôi đều là lính mà vì bác Thăng là con người nhân hậu. Thiếu gạo ăn thì đến nhà bác lấy. Thiếu áo thì đến nhà bác mượn tạm. Thế mà chẳng hiểu vì sao trời không thương. Làm bảo vệ được hai năm thì bác bị tâm thần rồi nhảy giếng chết. Trước khi bị bệnh bác có gặp tôi nói chuyện. Bác nói, đất này có nhiều chuyện tâm linh, mọi người nên cẩn thận. Bác nói thấy có chuyện bất an. Mấy đêm nay ngủ cứ thấy có người đàn bà đến đòi quần áo, đòi một đốt ngón tay mà tôi nào biết tay chân gì ở đâu. Vừa nói chuyện buổi chiều thì đến đêm, lúc mọi người đang ngủ thì bỗng nghe có tiếng hú hét, tiếng đập bàn ghế ầm ầm từ phòng bảo vệ. Mọi người chạy ra thì thấy bác trần truồng cứ cầm cây đập đập lên bàn ghế. Đôi mắt thất thần nhìn mọi người. Rồi hai tháng sau bác qua đời. Đám tang của bác trôi đi trong u ám. Cả trường nghỉ học một ngày. Thầy Hiệu trưởng làm trưởng ban lễ tang mà cứ khóc mãi không thôi. Từ ngày bác mất, chẳng ai dám vào ngôi trường này làm bảo vệ. Căn phòng bác ở khóa trái cửa, chẳng ai dám mở một lần. Có bữa, tôi đi ăn cỗ về muộn. Ngang qua cánh đồng, chợt thấy có bóng người đi trước mặt quãng năm sáu mét. Trăng sáng lắm nên tôi nhìn thấy có hai người đang đi. Một đàn ông, một đàn bà. Bóng người đàn bà khó nhận ra lắm vì lúc mờ lúc tỏ. Nhưng cái dáng người đàn ông thì quen lắm. Người ấy đi chân cao chân thấp. Không thể lẫn vào đâu được. Đó là bóng bác Thăng. Tôi chạy theo nhưng bóng bác và người kia cứ từ tan ra, tan ra và mất hút giữa cánh đồng đầy gió chướng…
Đêm đã về khuya, câu chuyện thầy Tài cũng ngừng lại. Chúng tôi trở về phòng của mình. Sân trường nhạt nhòa bóng trăng đầu tháng. Trời đứng gió. Vài ba con đom đóm bay là là trên những cây bụi thấp. Tôi chìm vào giấc ngủ nhanh chóng. Ngoài kia, đêm của đất quê đầy tiếng côn trùng rả rích. Độ ba bốn giờ sáng tôi nổi cơn đau bụng dữ dội. Đường về phía nhà vệ sinh thì xa lắc lơ và đầy bóng tối. Tôi cầm chiếc đèn pin tù mù đi ra. Chiếc đèn khi sáng khi tối om mà bụng dạ tôi thì không ổn lắm. Đi được nửa đường bất thần tôi vấp phải một vật gì mềm mềm. Quá bất ngờ, tôi ngã xuống, chiếc đèn pin văng đi đâu mất. Trời đất, không đâu như lúc này, tim tôi đập loạn xạ. Những câu chuyện thầy Tài kể lại hiện về trong đầu tôi đầy đủ, không sót một chi tiết nào. Định thần, tôi quờ quạng xung quanh xem thử vật vừa dẫm lên là gì. Nhưng không thấy gì cả. Trăng đã lặn từ lâu. Chỉ tiếng côn trùng rỉ rả kêu sương nghe lành lạnh. Chợt một tia chớp rạch ngang trời. Ánh sáng đủ cho tôi nhìn thấy cách mình vài ba mét, có một người đàn bà tóc tai rũ rượi đang đứng quay mặt về phía tôi. Người đàn bà có cái miệng cười với hố đen rộng toác. Tôi muốn thét lên nhưng chỉ trong chốc lát khi tia chớp thứ hai rạch lên, đã không còn người đàn bà đứng đó nữa.
Tôi bị bệnh nằm liệt giường mất hai tháng. Tóc rụng từng mảng. Rồi sau đó tôi rời trường để chuyển về thành phố mang theo những câu chuyện thầy Tài kể và bóng người đàn bà trong cái đêm khuya tối trời tôi đau bụng. Nhiều năm qua tôi không bao giờ nguôi ám ảnh về nơi ấy. Có lần về thăm trường. Thấy chẳng khác xưa nhiều lắm. Phòng bác Thăng thì vẫn im ỉm đóng. Thầy Tài đã mất vì bệnh ung thư phổi. Những người ở ký túc xa năm ấy, người thì vẫn bám lại, người thì chuyển đi đâu không ai biết. Giờ đây mỗi lần nhớ lại mảnh đất ấy. Tôi không khỏi rùng mình ớn lạnh.
Phan Danh Hiếu
(Trích tập truyện ngắn Chờ đợi những mùa thi - Phần II, Sắp XB)

Nghe đọc sách hay - Những quyển sách giúp bạn thay đổi cuộc đời