Tìm Kiếm

Showing posts with label Những Bài Văn Hay. Show all posts
Showing posts with label Những Bài Văn Hay. Show all posts

Bài văn mẫu hay lớp 8. Kể lại câu chuyện lão Hạc nói với ông giáo về chuyện bán chó.

Bài văn mẫu hay lớp 8. Kể lại câu chuyện lão Hạc nói với ông giáo về chuyện bán chó. 
Bài văn mẫu hay lớp 8. Kể lại câu chuyện lão Hạc nói với ông giáo về chuyện bán chó. 

Tôi đang ngồi nhặt rau giúp bà giáo thì chợt thấy lão Hạc thất thểu bước vào nhà. Hình như tìm ông giáo thì phải. Lão Hạc người tuổi đã ngoài ngũ tuần, con trai lão đã đi làm ở đồn điền cao su, vợ mất sớm lại ốm đau liên miên. Song tính cũng lập dị. Đời thuở nhà ai có tiền mà không tiêu, có đất nhà không bán, sống đói khát đến tội nghiệp. Vừa thấy ông giáo bước ra chào, lão Hạc vội nói: 

Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! 

À, cậu Vàng là con chó của lão Hạc. Đó cũng là một lí do để lão bị coi là quái dị. Trong cái thời đại này, đặc biệt đối với cái làng này, làm gì có ai nuôi chó để mà cưng nựng như lão cơ chứ. Có lần tôi sang nhà lão để xin mấy củ gừng, tôi thấy lão nựng con chó nào “cậu” này “cậu” nọ, lại còn gắp cho ăn. Lão quý nó đến thế cơ mà. Sao tự dưng lại bán đi nhỉ? Ông giáo hỏi: 

Cậu bản rồi à? 

Bán rối! Họ vừa bắt xong. 

Giọng lão nhừa nhựa, chứa đầy đau khổ. Ông giáo ngoái sang hỏi tiếp: 

-Thế nó cho bắt à? 

Bỗng nhiên lão Hạc yên lặng một cách kì lạ. Tôi ngước lên nhìn lão. Dù không rõ lắm nhưng hình như lão đang khóc. Những giọt nước mắt đau khổ. Nhìn lão mà tôi tựa như thấy những nếp nhăn trên mặt lão xô vào nhau và ép ra từ đó những giọt nước mắt hiếm hoi của một ông già, một người dạn dày trong vất vả, lam lũ. Mình khổ thì chả khóc, hơi đâu khóc vì con chó. Lão nói trong tiếng khóc uất ức, tức tưới: 

Khốn nạn..! Nào nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ra. Rối tôi cho nó ăn. Nó đang ăn thì thằng Xiên, thằng Mục chạy ra, tóm lấy cẳng sau nó mà dốc ngược lên. Hai thằng chỉ loay hoay một lúc đã 

trói được nó. Nó khôn lắm ông giáo ạ! Nó làm in như nó trách tôi: “A! Lão già tệ lắm. Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?” Trời ơi, tôi giả bằng này rồi mà còn nỡ tâm lừa đối một con chó... 

Tiếng nói của lão sao mà nghe chua cay, đau xót đến thế. Quả thực là lão đau khổ và cảm thấy nhục nhà vô cùng khi làm việc ấy. Bỗng dưng sao tôi như cảm thông với lão, hiểu rõ những điều lão đang làm. 

Ông giáo có vẻ rất thông cảm với lão. Ông rót một bát nước để trước mặt lão Hạc rồi khẽ an ủi: 

Đấy là cụ tưởng thế chứ nó chả biết gì đâu. Hơn nữa có ai nuôi chó mà chả bản hay giết thịt. Mà ta giết nó là hoá kiếp cho nó đấy cụ ạ! 

Lão Hạc đáp lại với giọng chua chát, mỉa mai: 

Ông giáo nói phải! Kiếp chó là kiếp khổ, thôi thì ta cứ hoá kiếp cho nó làm kiếp người. Có thể, may ra mới sung sướng hơn. Kiếp người như kiếp tôi nay chẳng hạn. 

Phải rỗi, như kiếp lão, như kiếp tôi, ở cái thời này, con người sống có khác gì con chó. Nếu không phải khốn khổ vì vật chất thì cũng phải luồn cúi nhục nhã. Tự dưng tôi thấy đồng cảm với lão, với nỗi đau của lão vô cùng. Có lẽ ông giáo cũng nghĩ vậy. Ông giáo khẽ nắm bờ vai gẩý của lão, bảo: ' 

Cụ chờ chút, tôi vào lấy ấm chè tươi thật đặc và mấy củ khoai vừa luộc. Uống nước chè, hút điếu thuốc lào và ăn củ khoai nóng… thế là sướng. 

Tôi ra về tựa như cảm nhận nỗi đau của lão Hạc. Phải rồi, tôi, lão, ông giáo... đều khốn khó, mòn mỏi. Phải làm gì đây cho cuộc đời tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn? 

Những bài văn mẫu hay lớp 8.


Giới thiệu tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Bài văn mẫu hay lớp 8 rèn luyện kỹ năng viết văn hay điểm cao.

Giới thiệu tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Bài văn mẫu hay lớp 8 rèn luyện kỹ năng viết văn hay điểm cao. 
Giới thiệu tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Bài văn mẫu hay lớp 8 rèn luyện kỹ năng viết văn hay điểm cao.

Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 năm 1428, nhân dân ta dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng để. Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô chữ Ngô ở đây là chỉ nhà Minh) để tuyên bố cho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiều nguy nan đã thắng lợi, từ đây dân tộc bước vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hòa bình, thống nhất. 

Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo bình Ngô, nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô. Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề cho dễ hiểu, chứ chưa hẳn là dịch. Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương Bắc. 

Bài văn được viết theo thể cáo, thể văn biến ngẫu, ra đời nhằm công bố sự kiện trọng đại của quốc gia hoặc sau một cuộc kháng chiến lâu dài. Đây là văn kiện chính luận, không phải lúc nào người ta cũng dùng. 

Bài cáo chia làm bốn phần: 

Phần 1 (từ đầu đến chứng cớ còn ghi): nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến. 

Phần 2 (Vừa rồi... chịu được): tố cáo tội ác của giặc Minh. 

Phần 3 (Ta đây ... xưa nay): thuật lại quá trình kháng chiến. 

Phần 4 (Xã tắc... Ai nấy đều hay): tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỉ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước. 

Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại, nêu cao lòng tự hào, niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa, ca ngợi tài năng lãnh đạo và cả khí phách hào hùng của dân tộc. 

Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên mãi mãi là áng thiên cổ hùng văn. 

Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh, năng lực tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa, hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. 

Bài văn mẫu hay lớp 8 rèn luyện kỹ năng viết văn hay điểm cao.

Giới thiệu văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn. Bài văn mẫu hay lớp 8 tuyển chọn.

Giới thiệu văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn. Bài văn mẫu hay lớp 8 tuyển chọn. 
Giới thiệu văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn. Bài văn mẫu hay lớp 8 tuyển chọn.

Lí Công Uẩn (974 -1028) quê ở Kinh Bắc, là võ tướng có tài của Lê Đại Hành, từng giữ chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy Sư. Ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều hi vọng. Năm 1009, Lê Ngọa Triều mất, Lí Công Uẩn được giới tăng lữ và triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Lí Thái Tổ và gây dựng nên nhà Lí tồn tại hơn 200 năm. Năm 1010, Lí Thái Tổ viết Chiếu dời đô để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La. Sau khi dời về Đại La, ông đổi tên địa điểm này thành Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt, chính là Hà Nội ngày nay. 

Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn là văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn. Chính văn bản này đã góp phần khai sinh ra kinh đô của nước ta trong quá khứ và hiện nay. 

Phần đầu của Chiếu dời đô nói lên mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô. Đó là để đóng đô nơi trung tâm, mưu toàn nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân. Nói một cách khác, việc dời đô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời, vừa hợp lòng dân, là để xây dựng đất nước cường thịnh, đem lại hạnh phúc cho muôn đàn. 

Việc dời đô không còn là chuyện xưa nay hiếm, nó đã được thực hiện bởi các vị vua trước đó ở Trung Hoa. Tác giả đã nêu lên những dẫn chứng cụ thể để thuyết phục mọi người. Chuyện các vị vua Trung Hoa dời đô để xây dựng đất nước phồn thịnh, chuyện các vị vua Việt Nam thời Đinh Lê đóng đô ở Hoa Lư làm cho triều đại không vững bền, nhân dân đói kém... Lí Công Uẩn đau xót khi chứng kiến vận số ngắn ngủi của nhà Đinh, nhà Lê và cảm thấy việc dời đô là một việc làm cấp thiết. 

Phần mở đầu của Chiến dời đô có lí lẽ sắc bén, dẫn chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục. Tác giả đã lồng cảm xúc vào bài chiếu, tạo nên những ấn tượng đẹp: Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi. 

Tác giả đã chỉ ra được những điểm thuận lợi của kinh đô mới so với kinh đô cũ. Đại La không có gì xa lạ đối với mỗi người dân Việt lúc đó, nó được Cao Biến đời nhà Đường xây dựng vào thế kỉ thứ IX. Những điểm mạnh của kinh đô đã được Lí Công Uẩn chỉ rõ trong bài chiếu. Vị trí của nó ở vào nơi trung tâm của trời đất... đã đúng ngôi nam bắc đông tây. Địa thế của Đại La rất đẹp, rất hùng vĩ, là thế rồng cuộn hổ ngồi, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng,

đất đai cao mà thoáng. Rõ ràng đây là một vùng đất lí tưởng thích hợp cho việc đóng đô và quần tù cư dân. Nó không bị ngập lụt mà muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. 

Tóm lại, Đại La là thống địa, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. 

Phần thứ hai của Chiếu dời đô cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị vua mở đầu triều Lí, một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và chính xác về tất cả các mặt. Điều này hoàn toàn không phải là một ý kiến chủ quan mà chính là khả năng nhìn nhận và tính toán một cách chính xác, quyết đoán. Sau một nghìn năm, Thăng Long xưa nay là Hà Nội đã trở thành kinh đô của hầu hết các triều đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đây chính là cống hiến vĩ đại của Lí Công Uẩn cho lịch sử Việt Nam như câu nói của ông lúc dời đô: mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu. 

Về mặt văn chương, phần thứ hai của Chiếu dời đó rất đặc sắc. Cách viết hàm súc, giàu hình ảnh và biểu cảm. Về đối trong các câu rất chuẩn và đạt hiệu quả cao về mặt nghệ thuật. 

Phần cuối của bài Chiếu là lời bày tỏ của nhà vua trước quần thần về ý định dời đô, điều này cho thấy nhà vua rất công minh, đức độ trong việc trị nước: 

Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?

Việc dời đô của Lí Công Uẩn là một kì tích, kì công đối với đất nước. Sau một ngàn năm, Thăng Long Hà Nội đã trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; là trung tâm kinh tế, quốc phòng, văn hóa lớn của cả nước. 

Chiếu dời đô là áng văn xuôi cổ độc đáo, đặc sắc của tổ tiên để lại. Ngôn từ trang trọng đúng như khẩu khí của bậc đế vương. Nó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. Nó khơi dậy trong nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ. 

Những bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Giới thiệu về Phan Bội Châu và tác phẩm Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của ông. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Giới thiệu về Phan Bội Châu và tác phẩm Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của ông. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi. 
Giới thiệu về Phan Bội Châu và tác phẩm Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của ông. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Phan Bội Châu (1867 -1940) biệt hiệu là Sào Nam, quê ở Nam Đàn, Nghệ An. Ông là chiến sĩ cách mạng vĩ đại của dân tộc ta hơn hai mươi năm đầu của thế kỉ xx. Ông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn để lại nhiều kiệt tác chứa chan tinh thần yêu nước chống xâm lăng. Ông sáng tác nhiều tác phẩm bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ gồm có: Hải ngoại huyết thư:, Sào Nam thi tập, Ngục trung thư, Phan Bội Châu niên biểu, Trùng quang tâm sử, Việt Nam vong quốc sử. 

Năm 1913, chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) đã bắt giam Phan Bội Châu. Với cuộc mua bán chính trị bẩn thỉu này, chúng định trao nhà cách mạng Việt Nam cho thực dân Pháp, trong khi tòa án Pháp ở Đông Dương đã kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu. 

Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là chùm thơ hai bài, đây là bài thơ thứ nhất được Phan Bội Châu viết trong ngày đầu bị bắt giam. 

Bài thơ thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất và phong thái ung dung của người chiến sĩ yêu nước cách mạng trước cảnh tù đày, nguy hiểm. 

Hai câu để nói lên một tâm thế đẹp của người chiến sĩ cách mạng: 

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. 

Điệp từ “vẫn” làm cho ý thơ được khẳng định, biểu lộ lòng tự hào về nhân cách cao đẹp: hào kiệt, phong lưu. Một con người có tài cao, chí lớn trong mưu đồ đại sự cứu nước, cứu dân. Một nhà nho trang nhã, ung dung, đường hoàng. “Chạy mỏi chân” là cách nói hóm hình về sự hoạt động sôi nổi của Phan Bội Châu lúc ở Nhật, lúc sang Thái Lan, lúc ở Trung Quốc. Bốn tiếng “thì hãy ở tù” vừa chấp nhận cảnh ngộ tù đày, vừa là sự thách đố, thể hiện một thái độ rất bình tĩnh, rất chủ động trước tai ương hoạn nạn. 

Hai câu thực nói về cuộc đời người chiến sĩ cách mạng: 

Đã khách không nhà trong bốn biển, 
Lại người có tội giữa năm châu. 

Phải xa gia đình, quê hương đất nước, bôn ba hải ngoại, phải nếm trải mọi thử thách gian truân, chịu cảnh tù tội “hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót” (Bài ca chúc Tết thanh niên). “Khách không nhà” đối với “người có tội” (bị tù), “ bốn bể” đối với “năm châu” ngôn ngữ thơ cân xứng, thể hiện một tâm hồn cao đẹp, giàu đức hi sinh, một chỉ 

lớn tung hoành mang tầm vóc lớn lao được đo bằng “năm châu” và “bốn bể”. Giọng thơ thanh thoát phơi phới. 

Sau này, trong bài thơ Từ giã bạn bè lần cuối cùng viết năm 1940 trước lúc qua đời, ý thơ trên được tác giả nhắc lại: 
Những ước anh em đây bốn biển 
Nào ngờ trăng gió nhất ba gian.

Hai câu luận đối nhau, ngôn ngữ trang trọng diễn tả một chí khí hiên ngang, một chí lớn phi thường của người anh hùng muốn làm nên sự nghiệp vĩ đại. Thơ mang cốt cách anh hùng: 

Búa tay ôm chặt bổ kinh tế, 
Mở miệng cười tan cuộc oán thù. 

“Búa tay”, “ôm chặt” nói lên một tư thế hào hùng, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, một lí tưởng sáng ngời: Giúp đời cứu nước! “Cuộc oán thù” là cuộc chiến đầu chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước. Hai chữ “cười tan” thể hiện một ý chí, nung nấu căm thù. Giọng thơ hào hùng. Thủ pháp nghệ thuật được sử dụng đặc sắc: Hình ảnh thậm xưng kì vĩ, các động từ gợi tả mạnh mẽ (ôm chặt, cười tan) đã dựng nên hình ảnh một đấng nam nhi, một trạng anh hùng, một bậc trượng phu, hào kiệt... trong tù đày vẫn lạc quan, bất khuất, ngạo nghễ. 

Hai câu kết khẳng định một niềm tin chói sáng qua hai về tiểu đối: “Thân ấy vẫn còn/ / còn sự nghiệp”. Chữ “còn” được điệp lại hai lần và làm cho ý thơ được nhấn mạnh: con đường cách mạng cứu nước, cứu dân là con đường vinh quang sáng ngời chính nghĩa. Con đường chiến đấu vì chính nghĩa đang mở rộng phía trước. Câu thơ thứ 8 nói lên một chấp nhận, một thách thức, một tinh thần coi thường hiểm nguy, gian truân: 

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp 
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. 

Vần thơ mang tính hướng nội vang lên như một lời động viên khích lệ mình. Nó biểu hiện một dũng khí hiên ngang của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại: “Uy vũ bất năng khuất”. Đó là sự tự tin, lạc quan, bất khuất, làm chủ hoàn cảnh, mang cốt cách “hào kiệt, phong lưu”. 

Đây là bài thơ viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Giọng điệu hào hùng mạnh mẽ. Cảm hứng anh hùng dào dạt suốt bài thơ. Bút pháp khoa trương, lối đối và sử dụng điệp ngữ rất đặc sắc đã làm hiện lên cốt cách của “Bậc anh hàng, vi thiên sử, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (Nguyễn Ái Quốc). Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu là bài ca yêu nước, bài ca tự do. 

Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Giới thiệu truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Hen-ri) về nội dung câu chuyện, nhân vật, hình tượng chiếc lá. Qua đó rút ra ý nghĩa của chuyện.

Giới thiệu truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Hen-ri) về nội dung câu chuyện, nhân vật, hình tượng chiếc lá. Qua đó rút ra ý nghĩa của chuyện. 
Giới thiệu truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Hen-ri) về nội dung câu chuyện, nhân vật, hình tượng chiếc lá. Qua đó rút ra ý nghĩa của chuyện. 

Chiếc là cuối cùng là tác phẩm của nhà văn bậc thầy ở Mĩ, nhà văn 0.Hen-ri. Ông tên thật là Uy-liêm Xit-nây Po-tơ. Thời trẻ, để kiếm sống ông đã lang thang nhiều nơi, làm nhiều nghề khác nhau, có lần bị giam giữ trong ba năm. Ông lấy bút danh 0.Hen-ri có lẽ để kỉ niệm một người bạn tốt đã giúp đỡ ông nhiều trong thời kì này. Sau khi ông mất, Hội Nghệ thuật và Khoa học ở Mĩ lập một giải thưởng mang tên 0.Hen-ri để tặng cho các truyện ngắn hay hằng năm. 

Câu chuyện được đặt trong bối cảnh của một khu phố tồi tàn với những căn phòng cho thuê giá rẻ ở phía tây công viên Oa-sinh-tơn, trong khu phố tồi tàn đó có một ngôi nhà ba tầng, đó chính là căn nhà nơi nhân vật chính trong truyện trú ngụ. Thời điểm được xác định là tháng mười một, khi gió lạnh mùa đông bắt đầu tràn về. Hai nữ họa sĩ trẻ và nghèo là Giôn-xi và Xiu đến thuê chung một căn phòng ở tầng trên cùng của căn nhà. Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ nghèo sống ở tầng dưới cùng. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi và cảm thấy không muốn sống nữa mặc cho Xiu hết lời động viên và nhiệt tình chăm sóc. Hằng ngày Giôn-xi nằm quay mặt ra cửa sổ, nhìn những chiếc lá trên cây thường xuân rụng dần và đếm những chiếc lá còn lại. Cô nghĩ rằng khi chiếc là cuối cũng rời khỏi cành thì cũng là lúc cô phải lìa xa cõi đời. Tâm trạng bi quan của Giôn-xi cứ kéo dài và đến tai cụ Bơ-men. Vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp, khi chiếc là cuối cùng trên cây đã rụng, cụ Bơ-men đã vẽ một chiếc lá thường xuân thay cho chiếc là cuối cùng. Tuyệt tác của cụ Bơ-men đã cứu sống Giôn-xi nhưng cụ lại ốm nặng và qua đời. 

Chiếm vị trí trung tâm của truyện chính là hình ảnh từng chiếc lá trên cây thường xuân già rụng dần. Đó là một hình tượng giàu tính nghệ thuật: một cây thường xuân già cỗi đã cạn nhựa sống chỉ còn lại bộ xương khẳng khiu với mấy chiếc lá và bám vào bức tường đổ nát. Đây chính là hình ảnh về cuộc đời cô đơn, mòn mỏi của ba người nghệ sĩ. 

Mỗi chiếc lá rụng lại gợi cảm giác rằng cuộc đời đang lụi tàn dần, mỗi phút trôi qua là một phút mất mát: nét tươi tốt dần tan biến nhường chỗ cho vẻ héo hắt, xơ xác.

Mỗi nhân vật trong truyện là một tính cách, một số phận. Xiu là một nữ họa sĩ nghèo phải nhận vẽ minh họa cho một tạp chí, bán tranh cho lão chủ bút để kiếm tiền chăm sóc Giôn-xi, mua rượu Boóc-đô cho đứa em ốm, mua sườn lợn để đáp ứng cho cái tính báu ăn của mình. Giôn-xi là một nữ họa sĩ trẻ khát khao được vẽ vịnh Na-plơ, bản thân chị bị viêm phổi nặng và sống nhờ vào sự chăm sóc hết lòng của Xiu; Giôn-xi chán chường và không chút hi vọng, cứ nhìn qua cửa số đếm từng chiếc lá thường xuân rơi rụng, mỏi mòn đợi chiếc là cuối cùng lìa cành, xem đó là khoảnh khắc cuối cùng của đời cô. Bơ-men là một họa sĩ già, thường làm mẫu vẽ cho các nghệ sĩ cùng xóm. 

Chiếc lá thường xuân vẽ trên tường vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp là tuyệt tác của cụ Bơ-men. Nó đã giúp Giôn-xi lấy lại cuộc sống của mình. 

Với đức hi sinh cao cả và tài năng tuyệt vời với tâm hồn của một nghệ sĩ giàu lòng nhân ái, cụ Bơ-men đã vẽ chiếc lá thường xuân định mệnh. Chiếc lá được vẽ trong một đêm lạnh buốt khủng khiếp dưới ánh sáng của một chiếc đèn báo với vài chiếc bút lông rơi vung vải và một bảng màu xanh vàng pha trộn lẫn lộn. 

Bơ-men vẽ chiếc lá với mục đích giành lại sự sống cho Giốn-xi. Và quả thật tuyệt tác đó đã có tác dụng mầu nhiệm đưa Giôn-xi trở về với cuộc sống, với niềm mơ ước sáng tạo của người nghệ sĩ trẻ. 

“Chiếc là cuối cùng” mà cụ Bơ-men vẽ không những là một tác phẩm kiệt xuất về mặt nghệ thuật vì nó giống như thật, mà còn là biểu tượng của lòng nhân ái, đức hi sinh cao cả, sự quên mình để bảo tồn sự sống cho người khác. Như vậy, truyện đã “ca ngợi tình yêu thương con người, ca ngợi mục đích và ý nghĩa cao quý của nghệ thuật là hãy yêu thương và hi sinh sự sống vì con người”. 

Giới thiệu truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Hen-ri) về nội dung câu chuyện, nhân vật, hình tượng chiếc lá. Qua đó rút ra ý nghĩa của chuyện. 

Giới thiệu một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam. Bài văn mẫu hay chọn lọc lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi văn.

Giới thiệu một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam. Bài văn mẫu hay chọn lọc lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi văn. 
Giới thiệu một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam. Bài văn mẫu hay chọn lọc lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi văn.

Nón lá là biểu tượng gắn liền với dân tộc Việt Nam, gắn liền với những người mẹ ra đồng một nắng hai sương, với những người chị một đời buôn gánh bán bưng. Nón lá chứa đựng tâm tình của lứa đôi những chiều mưa bay, nắng đổ, của lòng du khách tìm về với bản sắc dân gian… Vừa là vật chất trong đời sống vừa thuộc tâm linh con người, nón lá bình dị như tên gọi nhưng mấy ai hiểu được chứa đựng trong những nan vành là cả cội nguồn của đất mẹ quê cha. 

Cái làm nên một dân tộc không chỉ những năm tháng đánh đuổi ngoại xâm, cái làm nên một dân tộc còn từ những văn hóa truyền thống tồn tại ngàn đời. Cách đây khoảng ba ngàn năm, nón lá đã được khắc trên tháp đồng Đào Thịnh, trên trống đồng Ngọc Lũ. Nón lá ban đầu gắn liền với đời sống nông nghiệp như một phương tiện của người dân trên xứ sở nhiệt đới nắng lắm mưa nhiều. Người ta đội nón đi cày bừa, cấy, gặt. Người ta đội nón đi chợ sớm chợ chiều, đi hội hè tế lễ… Trên khắp đất Việt này, đâu lại chẳng có hình ảnh của nón lá thân thương: một chiếc nón quai thao yểu điệu trong lễ hội người dân đất Bắc, nón Gò Găng Bình Định trên những chiếc xe ngựa ngược xuôi, nón bài thơ lãng mạn của con người Huế… 

Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu. Nón lá tuy giản dị nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Với cây mác sắc, người ta chuốt từng sợi tre thành mười sáu nan vành một cách công phu, sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành Đế có được là đẹp, họ thường chọn lá non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho thắng và lắng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chém lá không bị chồng lên nhau thành nhiều lớp để nón có thể thanh và 

mỏng. Loại lá làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm. Lá mọc ở những vùng núi, sau này người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên là Bồ Quy Diệp. Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người ta phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn, đè và kéo nón lá thắng như một tờ giấy trắng, có nổi lên những đường gân nhỏ, lựa những là đẹp để làm phần ngoài của nón. Người ta dùng cái khung hình như Kim Tự Tháp, có sáu cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài mười sáu cây vành tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Nón thường chỉ mười sáu vành tròn làm bằng tre cật vót đều nhau nối lại. Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ hai lớp lá, trong chen hình cảnh và các câu thơ. Nón thường độ bền lâu hơn và có ba lớp, phần trong lót thêm loại lá đọt. Nón rộng đường kính 41cm, người ta phết phía ngoài lớp sơn dầu trong suốt để nước mưa không thấm vào. Nghề làm nón lá thường có ở miền Trung và miền Bắc trong các làng quê sau vụ mùa, các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón. 

Đời sống văn minh phát triển nhưng nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên mẫu của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy nón lá ngàn đời không đổi thay. Sự không đổi thay ấy ngoài việc làm nên bản sắc truyền thống còn xây dựng cho biết bao mối tình chung thủy của đôi lứa với quê hương: 

Ai ra xứ Huế mộng mơ 
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà. 

Hay: 
Nhớ nón Gò Găng 
Vầng trăng Đập Đá 
Sông dài sóng cã 
Người quân tử 
Khăn điều vắt vai. 

Nón lá trong đời sống mưa nắng dài lâu, nón lá trong nghệ thuật tôn vinh vẻ đẹp thuần túy thủy chung, nón lá trong văn chương đượm tình nặng nghĩa. Nón theo hình ảnh của mẹ đi vào giấc ngủ con thơ, theo hình ảnh quê hương đi vào khúc dân ca ru người viễn xứ. Trên vành nón dường như còn đọng lại cả mùi nắng gió quê hương, mùi cỏ cây quê cha đất mẹ, mùi bùn nâu dân ta vất vả trên đồng. Đi qua những năm tháng, đi qua những thăng trầm cuộc sống, nón lá mãi là nghĩa tình, chứa đựng những giá trị hữu hình lần vô hình của mấy ngàn năm dân tộc. 

Bài văn mẫu hay chọn lọc lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi văn.

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.
 
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Như thể có mây thì có gió, có sông thì có núi, nước và non là mối duyên lành mà đất trời đã kết se cho mảnh đất kinh kì. Bên dòng Hương Giang là núi Ngự Bình, vẽ nên cảnh sơn thủy hữu tình đặc trưng xứ Huế. Đâu phải ngẫu nhiên mà tự chốn này thi sĩ Bùi Giáng ít ra đã một lần rung động cảm tác: 

Dạ thưa xứ Huế bây giờ 
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương. 

Núi Ngự điềm đạm mà sáng cao, không biết cửa vào lòng khối núi rắn chắc ấy biết bao là mối cảm tình nhân gian? 

Núi Ngự khác nào một giả sơn: ông cha đã khéo đưa một thực thể tự nhiên vào quần thể kiến trúc, dựng nên bức bình phong uy nghỉ làm tiền án trên trục chính của kinh thành căn cứ vào các nguyên tắc địa lí phong thủy và thuyết âm dương ngũ hành. Ngự Bình trông xa hao hao chim đại bàng vỗ cánh bay lên trời nên tên cũ là Bằng Sơn (hay Bình Sơn). Vua Gia Long lên ngôi, chọn Phú Xuân làm kinh đô, đặt tên là núi Ngự Bình. Hình thể núi phía sau và trước không giống nhau, đặc điểm mà ca dao từng mô tả: 

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo 
Sông An Cựu nắng đục mưa trong. 

Gọi núi chứ thực ra đây chỉ là ngọn đồi hình thang, cao 105m, hai bên có hai núi đất là Tả Phù Sơn và Hữu Bật Sơn. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù - Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xòe cánh che chở cho đế thành. Cách núi Ngự Bình vài kilô-mét là đồi Vọng Cảnh, một danh thắng khác của Huế, đứng soi bóng duyên dáng bên dòng sông Hương, nhìn qua núi Ngọc Trân. Kế bên lại có núi Bân, nơi mà hơn hai trăm năm trước, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế trời, lên ngôi hoàng để, xuất binh đánh hàng vạn quân Mãn Thanh sang xâm lược. Từ chân núi đến đỉnh núi Ngư Bình rợp một màu xanh tốt của rừng thông mà ngày xưa các vua Nguyễn đã cho trồng. Thế ra rừng thông cũng chứa chất một phần linh hồn Huế, lặng lẽ tồn tại qua các vương triều, chỉ có điều triều đại xưa sụp đồ nhưng màu xanh này vẫn tiếp nối đến ngàn năm. Mỗi độ giêng hai khi sương xuân vào buổi sáng tỉnh mơ còn vờn bay mờ nhạt cả đỉnh núi Ngự Bình thì cũng là lúc những cây thông ở núi Ngự Bình như thức dậy và quyến rũ thêm. Mỗi lần nghe thông núi Ngự reo vui mà lòng người lại bâng khuâng một nỗi niềm khó tả. Ta thường thích thú được lặng im ngồi nghe khúc nhạc thiên nhiên vi vu ấy với cảm giác thanh thản, sảng khoái khi được nhìn những cây thông san sát bên nhau như đang giang tay ôm lây núi Ngư vào lòng. Đứng trên đỉnh núi Ngự phóng mặt về xa, ta thấy những màu xanh ấy còn trải dài trên một rừng đồng bằng bát ngát của các huyện Hương Thuỷ, Hương Trà, Phú Vang. Những dịp đẹp trời, có thể trông xa trọn vẹn ruộng đồng, làng mạc các huyện phụ cận, cả dãi cát trắng cửa Thuận và màu xanh biếc của biển đông, cả dãy Trường Sơn tím thẫm ẩn hiện phía Tây qua trập trùng mây bạc. Tạo hóa thật hữu tình khi vẽ liền sau một nét vút lên của nui là một nét mềm mại của dòng sông Sông Hương như một dải lụa mềm trải quanh co dưới chân đồi, soi bóng Ngự Bình, làm bạn tri âm. 

Núi không cao đường lên không cheo leo gập ghềnh nhưng núi Ngự mang cái dáng vẻ của một con người trầm tư mặc tưởng. Cái đẹp của núi Ngự không chỉ về phong thủy che chở cho kinh thành Huế, cái đẹp của núi Ngự là ở chỗ gần gũi với dân Huế, nó trở thành một cái đần, một ngôi lầu cao vút và lên đó theo những bậc cấp nhân tạo người ta có thể phóng tầm mắt mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu hiền của thành Huế, lắng nghe những tiếng vọng từ bên dưới rất xa, và có cảm tưởng mình như đang ở vào một thế giới nào đó. Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn mới hiểu biết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên họa của một ngọn núi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế. Ai mà chẳng để tâm hồn nằm đọng lại khi một lần ghé lướt qua "kiệt tác về thơ của kiến trúc đô thị” này. 

Đâu phải vô tình người ta gọi xứ Huế là miền Hương Ngự. Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa quyện vào nhau tạo nên một bức sơn thủy đằm thắm dịu dàng.. “Núi Ngự không chỉ là cảnh đẹp đứng bên ngoài, nó còn là một thực thể quẩn quýt rất sâu trong tình cảm riêng của nhiều thế hệ người Huế... Trong khát vọng thăng hoa của tâm hồn Huế, núi Ngự Bình mãi mãi là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). 

Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi.

Thuyết minh về một thể thơ mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8

Thuyết minh về một thể thơ mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8 
Thuyết minh về một thể thơ mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8

Thơ Đường là một hiện tượng thi ca đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc, kéo dài suốt từ thời nhà Đường, từ khi Đường Thái Tông dựng triều đại, cho đến khi nhà Đường kết thúc, ròng rã ba trăm năm (618- 907). 

Trong khoảng thời gian đó, có tới hàng vạn bài thơ của khoảng hai nghìn ba trăm nhà thơ. Trên cái nền vì đại ấy, có những thi hào nổi danh và trở thành những danh nhân thế giới như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... Một phong trào thơ, mở đầu và phát triển, luôn luôn có những tên tuổi mới, vượt trội lên. Phong cách của những nhà thơ nổi tiếng của đời Đường rất đa dạng: Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Trần Tử Ngang, Cao Thích, Lí Thương Ẩn, Trương Tịch, Đỗ Mục, Lưu Vũ Tích, Đỗ Tuân Hạc, Tào Đường... thơ của họ đã rất khác nhau, nói chi đến Lí Bạch và Đỗ Phủ. Đề tài thể hiện từ những sinh hoạt xa hoa của quý tộc, đến cảnh nghèo túng nhất của dân chúng, cảnh đời, cảnh tiên, núi non, sông nước, trận mạc, hoa cỏ... rất phong phú. Đề tài thơ này với để tài thơ khác, mỗi đề tài lại có một vẻ đẹp riêng nhưng cũng có những phong vị chung. Vua chúa như Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên, Đường Huyền Tông, Hiến Tông, Mục Tông, Tuyên Tông; nữ thi sĩ như Đỗ Thu Nương, Trần Ngọc Lan, Dương Quý Phì...; hoặc những dân chúng bình thường ở thành thị hoặc thôn đã đầu làm thơ, yêu thơ. Sinh hoạt ngâm thơ, thưởng thơ ở các nhà giàu đã đành, mà trong quân, những tiệc lớn của nhà vua hay Tết nhất, lễ hội của dân chúng, thơ cũng là một thứ được nhiều người mến mộ. 

Nhiều bài thơ hay đã được lưu truyền hàng ngàn năm nay, không những ở trong nước mà còn vượt ra ngoài nước. Thơ là một qui định trong thi cử... Thơ Đường có ảnh hưởng lớn trong nền văn hóa Trung Hoa, và các nước láng giềng trong đó có Việt Nam. 

Di sản đồ sộ và tinh hoa của thơ Đường đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa và là một trong những điểm sáng rực rỡ của văn hóa nhân loại. 

Không riêng gì thơ ca mà cả ngành khác như họa, nhạc, múa cũng đều phát triển. Do đó, ngành này đem lại vẻ đẹp cho những ngành khác. Thơ Đường rất trọng âm nhạc, hình ảnh, khắc họa. Sự trau chuốt, khổ công đi đôi với những cảm hứng tự nhiên. Không phải tự dưng có được, mà do những kiến thức thu hái từ nhiều nguồn của các nhà thơ đời Đường. Vương Duy không những là một nhà thơ, còn là một họa sĩ, một nhà thư pháp. Do đó trong thơ ông thơ và họa kết hợp rất điêu luyện. Sau này, thi hào Tô Đông Pha đời Tống đã thốt lên rằng: “Mỗi bài thơ của ông (Vương Duy) là một bức họa, và trong mỗi bức họa của ông lại có một bài thơ”. Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán, Cao Thích nghe hát ở Kì Đình, thẩm âm sành điệu chẳng khác gì nhạc công, nhạc sĩ... 

Thơ Đường sâu sắc về nội dung, đẹp về hình thức, hiện thực và lãng mạn đều đạt tới đỉnh cao... 

Thơ Đường được chia ra làm hai loại: cổ thể và tân thể (luật). Trong cổ thể lại có bài năm lời (ngũ ngôn) và bảy lời (thất ngôn). 

Trong thơ luật có hai loại tuyệt cú (bốn câu) và bát cú (tám câu), mỗi phần trong bài bát cú đều có quy tắc cụ thể thành một quy định về cấu trúc (phá, thừa, thực, luận và kết). Ngoài ra, còn có luật bằng trắc, bắt buộc tạo thành âm điệu và vẫn, tạo nhịp điệu phong phú cho bài thơ. Thơ Đường có mấy thời kì như sơ Đường, thịnh Đường, trung Đường, vãn Đường. Cũng có nhiều nhà nghiên cứu chỉ chia gọn làm ba thời kì là sơ, thịnh và văn hoặc sơ, trung và văn. Mỗi thời kì đầu có những nhà thơ tiêu biểu. 

Thuyết minh về một thể thơ mà em biết. Bài văn mẫu thuyết minh hay lớp 8

Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi đạt điểm cao.

Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi đạt điểm cao. 
Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi đạt điểm cao.

Có thể nói Tắt đèn là một tác phẩm để đời của Ngô Tất Tố. Đó là bản cáo trạng lêu án sự thối nát của chế độ thực dân, phong kiến. Tác phẩm còn để lại một hình tượng nhân vật chị Dậu tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam nói riêng và nông dân Việt Nam nói chung trước Cách mạng tháng Tám với những phẩm chất tốt đẹp như yêu thương chồng con sâu sắc và có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột. 

Đoạn trích Tức nước vỡ bờ kể lại chuyện anh Dậu sau khi bị ngất xỉu ở sân đình, bọn tay sai sợ bị vạ lây nên đem anh Dậu trả về gia đình trong tình trạng thừa chết thiếu sống. Chị Dậu và bà con ra sức chăm sóc anh Dậu. Chị Dậu vô cùng đau đớn và xót xa cho mạng sống của chồng. Tấm lòng của người vợ luôn hiện hữu trong mỗi hành động của chị Dậu đối với anh Dậu. 

Nhưng khi anh Dậu đang run rẩy bê bát cháo lên thị bọn cai lệ và người nhà lí trưởng đã tiến vào nhà với roi song, tay thước, dây thừng trên tay. Thái độ của bọn chúng khiến ai cũng phải thất kinh, những lời lẽ chửi bới, mỉa mai tuôn ra từ miệng chúng. Đối phó với tình huống bất ngờ đó, chị Dậu đi từ nhún nhường, van xin đến phản kháng mãnh. liệt. Ban đầu chị run run van xin, nài nỉ: “Khốn nạn nhà cháu đã không có, dầu ông có chửi mắng cũng thế thôi, xin ông trông lại”. Những lời lẽ xưng hô của chị Dậu cho thấy chị đã hạ mình hết mức để bảo vệ chồng. Bọn tay sai vẫn không động lòng trước những lời van xin của chị Dậu. Sự ức hiếp của bọn chúng đã làm trỗi dậy sự phản kháng mãnh liệt của chị Dậu. Tinh thần phản kháng thể hiện qua lời nói và hành động của chị. Chị xám mặt lại và cách xưng hô cũng thay đổi dần. Chị không còn gọi “ông” và xưng “con”, “cháu” nữa mà thay vào đó là “mày” với “bà”. Chị Dậu đặt mình vào vị trí cao hơn kẻ thù và giành thế chủ động trong lời nói và hành động của mình: “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”. Hành động của chị quyết liệt và nhanh như cắt, chị nắm lấy ngay gậy của hắn, túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm. 

Câu nói đầy vẻ thách thức và hành động quyết liệt vừa biểu hiện tấm lòng thương chồng vừa cho thấy sự dũng cảm và tinh thần đấu tranh quyết liệt của chị Dậu. Những hành động trên cũng cho thấy nội dung của cụm từ “tức nước vỡ bờ”. Bao nhiêu nỗi tủi nhục bấy lâu dồn nên trong lòng đã có dịp bung ra một cách mãnh liệt, đó chính là sự phản kháng của cả một dân tộc trước ách đô hộ và áp bức của các thế lực thống trị. Giá trị của đoạn trích được thể hiện rõ nét qua nhân vật chị Dậu. 

Tấm lòng thương yêu chồng con và tinh thần phản kháng trước sự áp bức của các thế lực thống trị đã làm nổi bật nhân vật chị Dậu trong đoạn trích. 

Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Bài văn mẫu hay lớp 8 bồi dưỡng học sinh giỏi đạt điểm cao.

Giới thiệu về chiếc mâm cơm. Lập dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.

Giới thiệu về chiếc mâm cơm. Lập dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.
 
Giới thiệu về chiếc mâm cơm. Lập dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.
l. Mở bài:

* Giới thiệu chung: 

Chiếc mâm đã xuất hiện từ rất lâu.

Đây là vật dụng vô cùng quen thuộc, gắn bó thân thiết với đời sống vật chất và tinh thân của người dân nước ta. 

Ở mỗi gia đình hầu như đều có một chiếc mâm. 

Il. Thân bài:

* Tả chiếc mâm: 

Hình dáng và kích cỡ: Mâm hình tròn, đường kính khoảng từ sáu đến bẩy tấc. 

-Chất liệu: Ngày xưa, mâm làm bằng gỗ, bằng đồng, ngày nay được làm bằng nhôm cho nhẹ và tiện. 

* Công dụng của chiếc mâm: 

Để bày thức ăn trong bữa cơm trong gia đình hay trong dịp lễ Tết, cúng giỗ, tiệc tùng… 

Vì mâm hình tròn nên ngồi ở chỗ nào người ăn cũng có thể gấp thức ăn dễ dàng. 

Mọi người ngồi xung quanh mâm, cùng ăn nên tạo được không khí vui vẻ, thân mật, ấm cúng.

III. Kết bài:

* Cảm nghĩ của em: 

Hình ảnh chiếc mâm gợi khung cảnh sum họp đầm ấm của gia đình. 

Dù cuộc sống có phát triển nhưng chiếc mâm vẫn không thể vắng bóng trong đời sống của chúng ta, nhất là ở nông thôn. 

Lập dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.

Thuyết minh về cấu tạo và công dụng của chiếc xe đẹp. Dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.

Thuyết minh về cấu tạo và công dụng của chiếc xe đẹp. Dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8. 
Thuyết minh về cấu tạo và công dụng của chiếc xe đẹp. Dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.
I. Mở bài:

* Giới thiệu chung: 

Chiếc xe đạp có nguồn gốc từ châu Âu, du nhập vào nước ta từ đầu thế kỉ XX. 

Chiếc xe đạp là phương tiện giao thông thuận lợi của mọi người, nhất là học sinh. 

Il. Thân bài:

* Nêu cấu tạo và tác dụng của các bộ phận: 

Hệ thống tay lái (ghi-đông, cỗ xe…) 

Hệ thống truyền động (khung xe, bàn đạp, trục giữa, ổ bi, xích líp, hai bánh,...) 

Hệ thống chuyên chở: yên xe, bộ phận chở hàng gắn ở trước và sau xe... 

Các bộ phận phụ khác: giỏ chứa đồ, đèn, chuông, chắn xích, chắn bùn, chân chống... 

* Nêu cách sử dụng và bảo quản: 

Bơm căng vừa độ, vặn chặt van khóa hơi, kiểm tra kĩ ốc vít trước khi đi. 

Thỉnh thoảng rửa xe, lau khô, tra dầu mở vào những bộ phận truyền động. 

Ruột xe, vỏ xe khi đã mòn, rách thì phải thay để bảo đảm an toàn. 

III. Kết bài:

* Cảm nghĩ của bản thân: 

Vai trò to lớn của chiếc xe đạp trong kháng chiến chống Pháp và chông Mĩ. 

Vai trò của chiếc xe đạp trong đời sống hiện nay. 

Dàn ý chi tiết bài văn hay lớp 8.

Cho chủ đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Em hãy viết thành một bài văn thuyết minh.

Cho chủ đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Em hãy viết thành một bài văn thuyết minh. Dàn ý chi tiết bài văn mẫu lớp 8. 

Cho chủ đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Em hãy viết thành một bài văn thuyết minh. 

I. Mở bài:

* Giới thiệu chung về Hồ Chủ tịch: 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng vô sản kiệt xuất, chiến sĩ hòa bình, danh nhân văn hóa thế giới. 

Với dân tộc Việt Nam: Người là Cha, là Bác, là Anh... 

-Đất nước ta tự hào về Bác. 

Il. Thân bài:

* Tinh thần yêu nước nồng nàn của Hồ Chủ tịch: 

-Vào đầu thế kỉ XX, thấm thía nỗi nhục nô lệ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước. 

Sau ba chục năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, năm 1941, Bác về Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. 

Bác lãnh đạo toàn dân vùng lên làm Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ quyền, độc lập, tự do. Bác Hồ là vị chủ tịch nước đầu tiên. 

Bác sáng suốt và kiên trì lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ xâm lược. 

-Lí tưởng và mục đích phấn đấu cao cả của Bác là vì dân, vì nước. 

Lòng nhân ái của Bác bao trùm khắp non sông, mọi tầng lớp nhân dân. 

Phẩm chất thanh cao, giản dị, đức khiêm tốn của Bác có sức thuyết phục rất lớn. 

* Sư tôn vinh của dân tộc và nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng cứu nước mà tên tuổi đời đời sống mãi với lịch sử và trong lòng nhân dân. 

Bác là chiến sĩ hòa bình xuất sắc của thế giới, danh nhân văn hóa của nhân loại. 

III. Kết bài:

Chúng ta tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết tinh tinh hoa truyền thống bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam. 

Bác Hồ là hình ảnh đẹp nhất về một con người chân chính của mọi thời đại. 

Bài văn mẫu hay điểm cao bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8.

Giới thiệu về tác giả Xéc-van-tét và tác phẩm Đôn Ki-hô-tê. Bài văn mẫu hay điểm cao bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8.

Giới thiệu về tác giả Xéc-van-tét và tác phẩm Đôn Ki-hô-tê. Bài văn mẫu hay điểm cao bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8. 

Giới thiệu về tác giả Xéc-van-tét và tác phẩm Đôn Ki-hô-tê. Bài văn mẫu hay điểm cao bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8.

Xéc-van-tét (1547 - 1616) là nhà văn lỗi lạc của Tây Ban Nha. Cuốn tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của ông là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của thời đại Phục hưng, nó đã làm cho tên tuổi Xéc-van-tét trở thành bất tử.

Tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê gồm 2 phần: phần I có 52 chương và phần II có 74 chương.

Phần I: Ki-ha-đa là một quý tộc nghèo, gần 50 tuổi, gầy gò, cao lênh khênh. Vì say mê các truyện hiệp sĩ phiêu lưu mà đầu óc lão trở nên mụ mẫm. Lão muốn trở thành hiệp sĩ, giang hồ khắp bốn phương trời, diệt trừ lũ khổng lồ yêu quái, thiết lập lại trật tự công lí. Lão tìm sắm binh khí, giáp trụ đã hoen rỉ của tổ tiên, đem sửa chữa, đánh bóng

lại để tự vũ trang cho mình. Con ngựa gầy còm được lão phong cho một cái tên rất oai: chiến mã Rô-xi-nan-tê. Còn lão mang cái tên rất oách: Nhà hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Mantra. Một hiệp sĩ cứu nguy đời phải đúng “mốt” nghĩa là phải có người tình xinh đẹp. Lão nhớ tới một phụ nữ mà lão thầm yêu thời trai trẻ, lão liền ban cho mụ nhà quê này cái tên nghe rất dài: Công nương Đuyn-xi-nê-a đuy Tô-bô-xô. Lão tổ chinh chiến: Quán trọ thành lâu đài, gã chủ quán thành lãnh chúa, cuốn sổ bán hàng thành “Kinh Thánh” hai ả gái điểm thành hai công nương. Lần thứ nhất ra đi, một trận đấu nảy lửa giữa lão và bọn lái buôn, vì họ không nhận ra Đuy-xi-nê-a duy Tô-bô-xô là đẹp nhất trần gian. Đôn Ki-hô-tê bị một trận đòn nhừ tử, may mà được người quen đưa về làng. Sau đó lão lại ra đi với một nông dân béo lùn, cục mịch được lão phong cho chức giám mã Xan-trô Pan-xa. Hai thầy trò ngược xuôi, ngang dọc khắp đất nước Tây Ban Nha. Thầy thì mang theo bao mộng tưởng hão huyền đến nực cười: đánh nhau với cối xay gió lũ khổng lồ, chiếc chậu thau của bác thợ cạo, tưởng là lũ sắt của Mam-bri-nô, một phu nhân ngồi trong xe ngựa, tưởng là công chúa bị lão phù thủy bắt cóc, đàn cừu tưởng đoàn diễu hành… Trò lẽo đẽo theo thầy với mộng tưởng thực tế: sẽ được thấy, khi đã công thành danh toại ban cho chức tước cai trị vài hòn đảo. Trong một trận đánh lớn Đôn Ki-hô-tê đã đánh tan một đám lễ tang, đạp què chân một sinh viên, giám mã Đôn Ki-hô-tê bất ngờ bị hai người quen bắt nhốt cũi đưa về cho gia đình; lợi dụng một lúc được tự do, lão lại lao vào đám rước cầu mưa để giải thoát bức ảnh Đức mẹ Đồng trình mà lão tướng là một công chúa bị bọn phản nghịch bắt cóc. Lão bị đánh tơi bời và người thân phải khiêng lên xe bò đưa về nhà phục thuốc!

Phần II: Đôn Ki-hô-tê lại lên đường. Lão gặp “Hiệp sĩ Gương soi”, hai bên giao đấu. Đối thủ chẳng may ngã ngựa. Đôn Ki-hô-tê chiến thắng. Hai thầy trò đắc thắng nghênh ngang trên đường và gặp một xe chở đôi sư tử; Đôn Ki-hô-tê ra lệnh cho người hộ tống mỡ ngay cũi! Lạ thay, sư tử nằm im trong cũi, ngó nhìn ra... Với chiến công này Đôn Kihô-tê đổi danh hiệu thành “Hiệp sĩ Sư tử”. Thầy trò Đôn Ki-hô-tê gặp hai vợ chồng bá tước. Họ đón tiếp Đôn Ki-hô-tê với kiểu cách hiệp sĩ và phong cho giám mã Xan-trô Pan-xa chức quan Thống đốc đảo Ban-ta-ria. Màn bi hài kịch diễn ra. Một trận tấn công giả được tổ chức. Thống đốc đảo bị một trận đòn nhừ từ. Còn Đôn Ki-hô-tê bị trêu chọc, giễu cợt đủ đường. Trận đánh giữa “Hiệp sĩ Vâng trăng bạc” với “Hiệp sĩ Sư tử” xảy ra, Đôn Ki-hô-tê đại bại, lão cam kết trở về nhà. Ôm đau, kiệt sức bây giờ lão ta mới nhận ra cái hại của nhưng cuốn truyện hiệp sĩ. Lão viết di chức và chết trong thầm lặng!

Tác phẩm đã đi vào lịch sử văn học nhờ nhiều yếu tố :

Đặt trong sự phát triển chung của tiểu thuyết thế giới, Đôn Ki-hô-tê được coi là một kiệt tác. Giọng văn hóm hỉnh, các giả định đầy kịch tính với bao chiến công và thất bại thảm hại của chàng hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man-tra cho thấy tài kể chuyện, dựng cảnh và chế giễu của ngòi bút nghệ thuật Xéc-van-tét.

Tác phẩm chế giễu tàn dư của lí tưởng hiệp sĩ phong kiến, báo hiệu sự xuất hiện của thời đại Phục hưng với những con người mới, tính cách và nghị lực mới. Về một mặt nào đó, tác phẩm đề cao tinh thần yêu thương nhân loại, yêu quý tự do, bình đẳng, ghét thói xa hoa, ăn bám quý trọng danh dự, tôn thờ đạo nghĩa.

Đôn Ki-hô-tê sáng ngời vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng.

Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hay lớp 8.

Thuyết minh về cấu tạo, công dụng và cách bảo quản chiếc phích nước (bình thủy). Dàn ý chi tiết bài văn giúp em viết văn hay lớp 8.

Thuyết minh về cấu tạo, công dụng và cách bảo quản chiếc phích nước (bình thủy). Dàn ý chi tiết bài văn giúp em viết văn hay lớp 8. 
Thuyết minh về cấu tạo, công dụng và cách bảo quản chiếc phích nước (bình thủy). Dàn ý chi tiết bài văn giúp em viết văn hay lớp 8.

I. Mở bài:

* Giới thiệu chung: 

Phích là một đồ vật thường dùng để đựng nước nóng. Phích có thể giữ được nhiệt độ từ 80°C đến 90°C trong khoảng một ngày. 

Trong mỗi gia đình đều có ít nhất một cái phích nước. 

Il. Thân bài: 

* Cấu tạo: 

+ Cấu tạo bên ngoài: 

Vỏ của phích thường được làm bằng sắt, bằng nhựa, trang trí đẹp mắt, có tác dụng bảo quản  ruột phích. 

-Nắp phích bằng nhôm hoặc bằng nhựa. 

Nút phích (nắp đậy ruột phích) thường bằng bấc (li-e) hoặc bằng nhựa. 

-Quai xách bằng nhôm hoặc nhựa. 

+ Cấu tạo bên trong: 

-Ruột phích được cấu tạo bởi hai lớp thủy tinh, ở giữa là khoảng chân không. Lòng phích tráng bạc có tác dụng ngăn sự truyền nhiệt ra ngoài giữ nước nóng lâu. 

Những chiếc phích tốt có thể giữ được nước nóng cả ngày, rất tiện dụng. 

* Cách sử dụng: 

Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất cho nên khi mua phải chọn thật kĩ. Mang ra chỗ sáng, mở nắp phích ra, nhìn từ trên miệng xuống đáy thấy có điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí. Điểm đó càng nhỏ thì van hút khí càng tốt, sẽ giữ nhiệt được lâu. Áp miệng phích vào tai, nghe có tiếng 0 0 là tốt. Tháo đáy phích xem núm thủy ngân có còn nguyên vẹn hay không. 

Phích mới mua về không nên đổ nước sôi vào ngay vì đang lạnh mà gặp nóng đột ngột, phích dễ bị nứt vỡ. Nên rót nước ấm khoảng 50°C- 60°C vào trước 80 phút, sau đó đổ đi, rót nước sôi vào. Đây nắp kín khoảng 10 tiếng để kiểm tra độ nóng của phích. 

Muốn giữ được nước nóng lâu, không nên rót đầy mà chứa một khoảng trống trên miệng phích để cách nhiệt. 

* Bảo quản: 

Sáng sáng đô hết nước cũ ra, tráng qua cho sạch hết căn đọng trong lòng phích rồi mới rót nước sôi vào đậy nắp thât chặt. 

Nên để phích xa tầm tay của trẻ nhỏ để tránh nguy hiểm.

III. Kết bài:

Phích nước là vật dụng quen thuộc và cần thiết cho moi nhà.

Dàn ý chi tiết bài văn mẫu hay lớp 8.

Giới thiệu trò chơi dân gian: Thả diều. Bài văn mẫu hay bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8.

Giới thiệu trò chơi dân gian: Thả diều. Bài văn mẫu hay bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8. 

Giới thiệu trò chơi dân gian: Thả diều. Bài văn mẫu hay bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8.

Trò chơi thả điều đã có từ bao đời nhưng cho đến nay nó vẫn hấp dẫn người chơi thuộc nhiều lứa tuổi, nhất là đối với tuổi thơ ở nông thôn. 

Sau những lúc đồng áng vất vả hoặc những buổi chiều trời trong gió mát, người dân quê em thường mang diều ra thả. 

Ông em kể rằng chiếc diều ngày xưa được làm bằng tre và giấy bối. Cật tre vót nhẵn uốn làm khung diều, thân diều được dán bằng loại giấy màu nâu rất dai. Dưới bụng diều là dàn sáo được tạo rạ từ những đoạn trúc khoét rỗng. Khi diều lên cao, tiếng sáo vi vu, du dương, ngân nga trong không trung bao la, bát ngát. Chiếc diều được giữ bằng một sợi dây đay se thật săn, cuộn tròn quanh khúc tre ngắn hoặc chiếc ống bơ. Dây càng dài, diều càng cao. 

Hình dáng chiếc diều ngày nay phong phú hơn nhiều. Diều lụa, diều giấy, diều ni-lông… đủ mọi hình thù chim, bướm, cá, thuyền, máy bay, tàu lượn… màu sắc sặc sờ, vui mắt. Một đồi đất trống, một triền đê hay cánh đồng sau mùa gặt chỉ còn trơ gốc rạ... đều là những bãi thả diều lí tưởng. 

Thà diều cần có hai người. Một người cầm dây và một người lựa hướng gió để lao diều. Khi lao, mũi diều phải chếch lên một góc khoảng bốn mươi lăm độ. Người cầm dây vừa chạy vừa giật nhẹ để gió nâng diều lên và từ từ thả dây dài ra cho diều bay cao. Hai người phải phối hợp với nhau thật nhịp nhàng. 

Cánh diều bay cao hay thấp phụ thuộc vào người điều khiển dây diều. Phải điều khiển thật khéo diều mới thăng bằng và bay lên được. Gió nâng cánh diều chao lượn giữa trời cao lồng lộng và tạo ra tiếng sáo vi vu, ngân nga, vang vọng. 

Thả diều là trò chơi thu hút nhiều lứa tuổi nhưng nó đặc biệt ở chỗ là trò chơi của riêng phái nam. Những chiều hè gió lồng lộng thổi, trên triền đê sông Hồng, hàng chục cánh diều bay lượn giữa bầu trời trong xanh, thoáng đãng. Âm thanh du dương của tiếng sáo diều gợi nên hình ảnh cuộc sống bình yên no ấm. Dưới mặt đất, những mái đầu thơ dại ngẩng cao, đôi mắt chăm chú dõi theo cánh diều chấp chới. Tiếng cười hồn nhiên giòn tan, tiếng bàn tán, tranh cãi xôn xao của dâm trẻ khuấy động sự tĩnh lặng chôn làng quê 

Thả điều là trò chơi dân gian xuất hiện từ lâu đời nhưng vẫn hấp dân vô cùng Cánh diều bay cao chở theo bao ước mơ, khát vọng. Hình ảnh những cánh diều thong dong bay lượn làm tăng thêm về thơ mộng cho khung cảnh quê hương yêu dấu. Thả diều không chỉ là trò chơi mang tính giải trí mà còn là một loại hình nghệ thuật. Không chỉ riêng ở nước ta mà nhiều nước châu Á có trò chơi thả diều. Hằng năm, những cuộc thi thả diều được người chơi tham gia đông đảo. 

199 dàn bài và bài văn hay lớp 8