Tìm Kiếm
Home » Posts filed under Văn cảm nhận
8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
Thiên nhiên quanh ta
Những ngày đầu tiên vào VTS
8 câu cuối " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
8 câu cuối "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
Cảm nhận về nhân vật Tử Văn
Cảm nhận câu 1-8 đoạn "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
Ngày đầu tiên vào trường THPT Võ Thị Sáu
Đề : Cảm nhận của anh/chị về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT
Với tuổi học trò, ai cũng có cái ấn tượng đẹp đẽ của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT .Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.
Ngày đầu tiên đến trường – đó là một buổi chiều với cái nắng chang chang , khí trời nóng nực đến nỗi ướt cả áo . Trước ngày tập trung vào trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh. Những năm học trường cấp 2 , sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hình ảnh đã in sâu vào trong kí ức của tôi . Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba - một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, không gian rộng rãi,...Bước qua cổng trường là những hình ảnh xa lạ đập vào mắt tôi . Ấn tượng đầu tiện của tôi về ngôi trường chính là cái cột cờ ngay giữa sân trường . Tôi vừa dắt chiếc xe đạp vào nơi để xe vừa ngước lên nhìn các lớp tầng trên . Tôi không ngờ rằng trong trường lại rộng như thế , khác xa với những gì tôi tưởng tượng . Tất cả đều đập vào mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.
Khi đã ngắm vẻ đẹp khang trang của ngôi trường, tôi vội vàng chạy đi kiếm lớp vì đã sắp đến giờ vào lớp . Tôi mong là trong lớp của tôi sẽ có một số người bạn cũ cùng học chung trường cấp 2 . May làm sao, tôi gặp được bạn học cũ của tôi. Tôi rất bất ngờ khi gặp bạn cũ và bây giờ tôi thấy đỡ lo phần nào . Sau mấy phút chào hỏi nhau , tôi thấy thầy giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của thầy làm cho tôi có một điều ấn tượng tốt về thầy – người sẽ đảm nhiệm lớp tôi trong năm học này . Chính hình ảnh có của thầy đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là những người bạn mà tôi chưa bao giờ gặp . Lời đầu tiên thầy nói với chúng tôi là những lời ghi chú về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..
Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ quần tây, áo sơ mi trắng cách điệu thêm một màu đen huyền ở cổ tay áo , tôi ra dáng là một nam sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.
Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học - Trường THPT Võ Thị Sáu , bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi tự hứa với mình là sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.
Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ.
Ngày đầu tiên bước vào trường THPT
10A15
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những ngày đầu tiên bước vào trường Trung học PT.
Cuộc sống là vậy, có niềm vui ắt sẽ có nỗi buồn, có hội ngộ cũng sẽ có chia xa. Khi tạm biệt mái trường cấp 2 thân thuộc, bạn sẽ đến với ngôi trường cấp 3 xa lạ. Mong ước được vào ngôi trường yêu thích của em đã không thành hiện thực nên ngày đầu tiên bước vào trường mới, trong em bỗng có cảm giác man mác buồn. Vừa bước vào cổng, một ngôi trường cao rộng, khang trang, lạ lẫm hiện ra trước mắt em. Chỉ mới là học sinh lớp 10, mới bước vào trường thôi nên cảm giác của em đa phần là bỡ ngỡ, ngỡ ngàng. Tiếng lá xào xạt, tiếng chim hót ríu rít, ánh mặt trời xen qua từng khẽ lá như muốn chào đón em đến với một thế giới mới tươi vui. Mọi người ai nấy đều cười nói rôm rả, trò chuyện vui vẻ nhưng sao trong lòng em vẫn còn cảm giác lo lắng, bồn chồn. Từng bước chậm rải tiến về lớp, em thầm mong sao cho mình có thể học chung với một người bạn cũ. Tiếc thay khi bước vào lớp, những người bạn mới, những gương mặt lạ lẫm chào mừng mừng em với vài nụ cười. Tìm được một chỗ trống và ngồi xuống, em đảo mắt nhìn xung quanh lớp, cố gắng tìm một ai đó để trò chuyện. Vốn rụt rè nên em không dám bắt chuyện với ai nên chỉ biết chờ giáo viên chủ nhiệm vào lớp. Bỗng cái khều tay của ai đó làm em giật mình, một bạn gái ngồi phía sau muốn làm quen với em.
Sau vài phút trò chuyện với bạn mới, thầy giáo chủ nhiệm lớp em bước vào. Đây là lần đầu tiên em có giáo viên chủ nhiệm là một thầy giáo. Thầy có vẻ còn trẻ, dáng người nhỏ, da ngăm đen, thầy ít khi cười nên không khí trong lớp có vẻ căng thẳng, không được sôi nổi. Do là ngày đầu tiên nên thầy chỉ làm quen với lớp, phổ biến những thông tin quan trọng và dặn dò những điều cần nhớ. Mặc dù nhìn vẻ ngoài thầy hơi lạnh lùng, nghiêm khắc nhưng em cảm nhận được trong thầy sự tận tình, quan tâm học trò. Kết thúc buổi sinh hoạt đầu tiên, em cảm thấy sự bỡ ngỡ trước đó của mình đã biến mất mà thay vào đó là sự mong chờ đến ngày khai giảng, ngày học chính thức để có thể khoác trên mình bộ áo dài trắng như bao bạn bè.
Cảm xúc về ngày đầu tiên đến trường Trung học Phổ thông của em có lẽ cũng sẽ giống như các bạn học sinh khác: buồn, lo lắng, cô đơn. Và những cảm xúc đó sẽ luôn đọng mãi trong lòng em như một dấu ấn không thể phai mờ của tuổi học sinh. Em sẽ cố gắng học thật tốt để thành công trong con đường đời và tự hào mình là một học sinh giỏi của trường
Đánh giá: Bài "Nhàn"-NBK
Như vậy, qua quan niệm sống “nhàn” được thể hiện trong bài thơ, người đọc đã nhận rõ vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là coi thường danh lợi, luôn giữ được tâm hồn trong sang, thanh cao, sống hòa nhập với thiên nhiên, với cuộc sống bình dị. Tác phẩm đã đề cao lối sống thanh cao của những nhà Nho yêu nước nhưng vì hoàn cảnh bất đắc dĩ phải sống ẩn dật. Tác phẩm “Nhàn” được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật một cách sang tạo , linh hoạt về bố cục, về cách diễn đạt. Thông qua những hình ảnh đời thường gắn liền với cuộc sống dân dã. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng giàu tính triết lí. Bên cạnh đó tác giả vẫn vận dụng một cách linh hoạt những điển tích, phép đối...thường gặp trong thơ Đường để sang tác một bài thơ chữ Nôm với những hình ảnh mang hồn dân tộc, thể hiện được quan niệm sống của một con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử.
Cảnh ngày hè- Bức tranh tràn đầy tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu đời, yêu dân, yêu nước
Họ và tên: Đinh Quang Minh
Lớp: 10A8
Nguyễn Trãi, vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là một con người tài năng kiệt xuất. Ông không chỉ để lại di sản phong phú về các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn khẳng định tài năng của mình qua sự nghiệp văn chương đồ sộ. Có thể nói, ông là người khởi đầu cho nền thơ cổ điển bằng tiếng Việt qua tập thơ Nôm “Quốc âm thi tập” nổi tiếng. Bài “Cảnh ngày hè” là một bài trong số đó, nơi mà tác giả đã gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của mình:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Bài thơ được sáng tác vào khoảng thời gian Nguyễn Trãi về ở ẩn ở Côn Sơn. Ông tạm thời xa lánh chốn kinh đô tấp nập để về với thiên nhiên trong trẻo, an lành nơi dân dã; để rồi ghi lại cảm xúc phấn chấn của mình trước cảnh vật mùa hè tưng bừng sức sống và kín đáo gửi gắm khát vọng dân giàu, nước mạnh vào bài thơ
Mở đầu bài thơ là vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên ngày hè:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Câu lục ngôn mở đầu giới thiệu hoàn cảnh sống và tâm trạng của nhà thơ lúc bấy giờ:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”
Về hình thức, đây là sự phá cách, cách tân táo bạo trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật: Phần đề có hai câu, nay chỉ còn một câu, lại là câu lục ngôn. Bên cạnh đó, nhịp thơ 1/2/3 chậm rãi phản ánh tư thế ung dung, tự tại vốn có của tác giả. Chữ “Rỗi” tách riêng thành một nhịp thể hiện sự nhàn nhã của ông, một người luôn luôn bận rộn với việc nước, việc dân. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng mơ ước. Tác giả ngồi “hóng mát” trong cảnh “ngày trường”. “Ngày trường” là ngày dài. Đây là cảm giác về thời gian của người sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra. Với con người bận rộn, luôn muốn cống hiến như Nguyễn Trãi thì cảm giác ấy càng thể hiện rõ hơn hết. Ông rơi vào hoàn cảnh phải “hóng mát” hết ngày này qua ngày khác trong khi đất nước đang gặp khó khăn, rơi vào tâm trạng “bất đắc chí”. Một nụ cười chua chát của Nguyễn Trãi như hiện lên đằng sau câu thơ ấy... Việc đặt thanh bằng ở cuối câu là một sự cách tân mới khiến câu thơ nghe như tiếng thở dài nhưng không giống lời than thở, đồng thời thể hiện tâm hồn luôn rộng mở để đón nhận thiên nhiên và cuộc sống xung quanh của nhà thơ
Dường như, chỉ có vẻ đẹp hồn nhiên, vô tư của cảnh vật mới có thể tạm xua đi nỗi phiền muộn vương vít trong tâm hồn tác giả. Ông mở lòng với thiên nhiên:
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Thiên nhiên dưới nét bút của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh quê tươi khỏe, hài hòa và tràn đầy sức sống. Cây hòe với “tán rợp giương”, xanh um, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa “phun thức đỏ” và sen hồng thì “tiễn mùi hương”. Sức sống trong cây đang “đùn đùn” dâng lên cành, lên hoa, lên lá. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào cả tâm hồn thi sĩ.. Với cách miêu tả từ gần đến xa bằng nhiều giác quan, màu sắc sinh động, hài hòa, kết hợp với các động từ mạnh, từ láy, bốn câu thơ đầu đã tái hiện được bức tranh thiên nhiêu mùa hè sinh động, căng tràn nhựa sống, đồng thời thể hiện được tình yêu thiên nhiên của nhà thơ
Nếu bốn câu thơ trên, Nguyễn Trãi chỉ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của vùng quê thôn dã thì ở hai câu thơ tiếp theo là vẻ đẹp thanh bình của bức tranh cuộc sống:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Từ tượng thanh “lao xao” đặt trước hình ảnh “chợ cá” làm nổi bật không khí nhộn nhịp của “làng ngư phủ”, đó là tiếng trao qua đổi lại, ồn ã tiếng nói tiếng cười. Hay tiếng ve kêu “dắng dỏi” như tiếng đàn bỗng vang lên trong “lầu tịch dương” báo hiệu chấm dứt ngày hè ở vùng quê. Tất cả những âm thanh ấy hòa lẫn vào nhau tạo nên bức tranh âm thanh sinh động, náo nhiệt, nó là hơi hướng của cuộc sống lao động cần cù, chân chất. Cảnh vật, thiên nhiên vào cuối ngày thật yên vui, thanh bình, nhưng cuộc sống thì không dừng lại...
Cỏ cây, hoa lá, con người đầy sức sống khơi dậy trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng. Đó là tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước, một tình yêu cuộc sống, yêu con người:
“Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
“Ngu cầm”, điển tích về cây đàn của thời vua Nghêu, vua Thuấn, là thời đại thái bình thịnh trị trong lịch sử Trung Hoa cổ, được tác giả mượn để nói lên ước muốn của ông: “dẽ có” được trong tay cây đàn ấy, đàn một tiếng để dân chúng đều được giàu có, no đủ. Ẩn sau khát vọng ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quan thần tham bạo ở triều đình đương thần không còn nghĩ đến dân, đến nước. Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước. Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân. Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 3/3 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ.
Việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng những hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh vào cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh mùa hè vui tươi, đầy sức sống, qua đó nhà thơ gửi gắm lòng yêu mến quê hương đất nước, hoài bão giúp nhân dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc
“Cảnh ngày hè” không chỉ tiêu biểu cho “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi mà còn là một trong những bông hoa chữ Nôm của nền văn học Việt Nam. Bằng cách sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo, bài thơ đã làm toát lên vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước cũng như vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, thể hiện rõ tư tưởng yêu nước thương dân và tinh thần sống có trách nhiệm với dân với nước
Độc Tiểu Thanh kí -Biểu tượng của tinh thần nhân đạo trong thơ Nguyễn Du
Nguyễn Du-đại thi hào,nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII,ngoài tập thơ về “ Truyện Kiều” ông còn nỗi tiếng về chùm thơ “Độc tiểu Thanh Ký” -kể về câu chuyện nói về số phận tài hoa bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh ,qua đó ông cũng muốn nói lên cuộc đời mình cũng heo hắc như nàng, đó là một trong những sáng tác được nhiều người biết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo và làm người đọc xúc động vì tình cảm nhân đạo cao cả của nhà thơ.
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hận,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Có thể cả bài thơ được Nguyễn Du viết trong thời gian đi xứ sang Trung Quốc thăm mộ Tiểu Thanh và đọc tập thơ của nàng mà cảm động viết ra bài thơ này.Tiểu Thanh-một ngươờ con gái tài sắc nhưng bất hạnh , lấy lẽ người tên là Phùng, bị vợ cả ghen, hành hạ, nàng buồn khổ đến chết khi mới 18 tuổi. Nàng có tập thơ bị vợ cả ghen đem đi đốt.Tập thơ còn lại một phần và được người đời chép lại. Nhờ tập thơ cháy dở ấy mà ND đã sáng tác ra được những dòng thơ thương xót này:
“Tây Hồ hoa uyễn tẫn thành khư”
Câu thơ đầu mở ra cho ta thấy một hình ảnh đối lập nhau. “Tây Hồ, hoa uyễn” đối lập với “ tẫn thành khư”.Gò hoang bên cạnh cảnh đẹp Tây Hồ càng gợi nỗi thương tâm của nàng Tiểu Thanh.Cảnh đẹp ngày xưa nay đã không còn dấu vết gì,cảnh vật đã theo qui luật của tự nhiên biến đổi theo thời gian.Tác giả đã sử dụng phép hoán dụ bằng cách nhắc đến Tây Hồ để liên tưởng đến nơi mà nàng Tiểu Thanh đã từng sống.
" Độc điếu song tiền nhất chỉ thư "
Câu thơ thứ hai xuất hiện đến hai từ chỉ sốt ít đó là " độc " và " nhất".Ngồi bên cửa sổ, nhà thơ thổn thức khi đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh .Văn chương của nàng cũng chịu bi đát của hồng nhan và dường như giữa tác giả và nàng Tiểu Thanh đều phải sống trong cảnh cô đơn nên dễ có sự đồng cảm.
Qua hai câu thơ, tác giả đã cho ta thấy bài thơ như một tiếng thở dài trước sự biến thiên, dâu bể của cuộc sống tự nhiên.Tuy cuộc sống, thiên nhiên cho nhiều thay đổi nhưng tác giả vẫn nhớ,vẫn cảm thông trước nỗi đau của một con người tài hoa nhưng bạc mệnh.
Cuộc sống của nàng Tiểu Thanh kiếp người và số phận nàng luôn chịu cái số xấu đã được sắp đặt :
"Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư."
Nguyễn Du đã chọn " chi phấn" và ông đã nhân cách hoá son phấn để suy tưởng." Chi phấn " có thần chắc phải xót xa vì nó đã gắn bó với con gái bạc mệnh thế nên "Chi phấn" là một cách nói hoán dụ để nói về tài và tâm hồn nàng." Hữu thần" từ chỉ sự việc cuộc đời Tiểu Thanh và rồi " liên tử hận" nói lên cái chết oan ức của Tiểu Thanh. Chỉ bằng một câu thơ,Nguyễn Du đã tái hiện lại được bi kịch cuộc sống của Tiểu Thanh
Nguyễn Du lại một lần nữa sử dụng phép hoán dụ từ " văn chương " để chỉ cái tài,chỉ ra tâm hồn thơ của nàng.Từ ngữ " vô mệnh " cho ta thấy nàng Tiểu Thanh không có một số phận hoàn hảo,số phận cô như bị huỷ diệt .Từ " luỵ phần dư" trong nguyên tác rất hay,diễn tả được nỗi oan của văn chương mà cũng chính là nỗi oan khuất của kẻ tài hoa.Hai câu thơ đối nhau rất chuẩn.
Nguyễn Du đã nhắc đến những sự việc quan trọng nhất trong cuộc đời của Tiểu Thanh,qua đó người đọc có thể hình dung được một người có sắc,có tài nhưng có số phận bất hạnh.Có thể nói cuộc đời của Tiểu Thanh tiêu biểu cho cuộc đời của những người tài hoa,bạc mệnh.Nguyễn Du không chỉ thấu hiểu mà còn đồng cảm sâu sắc với bi kịch trong cuộc đời nàng Tiều Thanh.Tuy nhiên,mặc dù sự tài hoa bị những thế lực đen tối rắp tâm,huỷ diệt nhưng nó vẫn có một sức sông mãnh liệt,vẫn tồn tại.Cách miêu tả của Nguyễn Du gợi cho người đọc niềm tin mãnh liệt về sự trường tồn của cái đẹp.
"Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư."
Hai câu thơ tiếp theo là lời luận bàn của Nguyễn Du về lời bàn kim cổ.Nguyễn Du cho rằng từ xưa đến nay có những nỗi hờn,bi kịch khó tìm ra lời lý giải,khó tìm ra câu giải đáp như Nguyễn Du cho mình là người cùng hội,cùng thuyền với nàng Tiểu Thanh,Nguyễn Du cũng là người có tài phong vận ,tài hoa bạc mệnh cũng như nàng Tiểu Thanh vì Nguyễn Du là một người sinh ra trong gia đình quyền quý nhưng số phận phải chịu cảnh long đong,lận đận,ông có tài văn chuơng nhưng học hành,thi cử không đổ cao nhưng cuối cùng được bổ cho chức quan võ ở Thái Nguyên và thơ của ông luôn thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo,yêu nước của con người.
Hai câu thơ đối nhau đã trực tiếp bà tỏ được sự đồng cảm sâu sắc với những bi kịch của nàng Tiểu Thanh,với những số phận đau khổ,với những cảnh đời bất công, ngang trái của những kiếp hồng nhan bạc phận,của những người tài hoa dường như chỉ có một cách giải thích duy nhất cho nỗi hờn kim cổ là dựa và thuyết tài tương đố
Hai câu kết nói lên nỗi niềm của Nguyễn Du:
"Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? "
Câu hỏi tu từ được Nguyễn Du dùng đến như một câu tự hỏi mình " Chẳng biết 300 năm lẻ nữa
Có ai nhỏ lệ cho Tố Như không ?" Câu hỏi này cũng đã diễn tả được khao khát của Nguyễn Du.Ngày hôm nay Nguyễn Du đồng cảm với nỗi đau của nàng Tiểu Thanh nhưng không biết sau này hậu thế có ai hiểu cho ông không.Từ "khấp " có nghĩa là nhỏ nước mắt,thể hiện sự đồng cảm ,thấu hiểu.Ông khao khát có người tri âm,có người đồng cảm thấu hiểu cho nỗi lòng của mình. Câu hỏi tu từ "Chẳng biết...Tố Như không ?" mà Nguyễn Du đặt ra đối với hậu thế hiện tại Nguyễn Du đang sống trong những ngày cô đơn,không ai hiểu và đồng cảm cho những bi kịch trong cuộc sống của Nguyễn Du : đang sống trong nỗi niềm u uất,không thề chia sẽ cùng ai
Đặt hai câu kết trong hoàn cảnh sáng tác của bài thơ,người đọc cảm nhận được câu hỏi tu từ như một lời nhắc nhở hậu thế đừng bao giờ quên nỗi oan ức của người xưa
Bài thơ hàm súc,ngắn gọn chỉ vỏn vẹn năm mươi sáu âm tiết nhưng đã giới thiệu được những bi kịch của nàng Tiểu Thanh,đó cũng là bi kịch của Nguyễn Du-một người tài hoa nhưng bạc mệnh.Bài thơ đồng thời bày tỏ được niềm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh,dành cho những tài hoa bạc mệnh.Bài thơ cũng đề cập đến niềm mong mỏi đó là khao khát của Nguyễn Du hướng về hậu thế. Ẩn trong tác phẩm,bài thơ là sự phẫn nộ trước thế lực đen tối,muốn phá huỷ và chà đạp lên cuộc sống của con người,huỷ diệt con người. Nguyễn Du đã bày tỏ trong bài thơ về tư tưởng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc."Độc Tiểu Thanh Kí " là một bài viết bằng chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du ,sử dụng phép đối va khả năng diễn đạt giàu tính gợi hình,gợi cảm,có sự thống nhất trong những mặt đối lập và ngôn ngữ giàu chất trữ tình,có tính triết lý.
Chưa tới 200 năm kể từ khi bài thơ này ra đời,hậu thế đã hiểu được nỗi lòng và tâm sự của Nguyễn Du,hậu thế cũng lý giải được nỗi hờn kim cổ mà Nguyễn Du đã phải trải qua.
Tố Hữu đã thay mặt cho hậu thế để viết những vần thơ bày tỏ sự tri âm với Nguyễn Du :
"Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn nam sau nhờ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ phu mỗi ngày "
(Trích " Kính gửi cụ Nguyễn Du " )
Tên: Huỳnh Ngọc Minh Thư
Lớp : 10a8
Độc Tiểu Thanh ký-Tiếng lòng của người tri âm
Đề: Nghị luận văn học: Độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du
Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ phận thơ chữ Hán có vai trò khá đặc biệt. Đó là những bài mà Nguyễn Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cảm; bày tỏ những day dứt trăn trở của mình.Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm sự ấy của Nguyễn Du lại có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Từ đó, ta có thể thấy rằng bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa nỗi đau thương người và long thương mình, giữa sự cảm thông cho kiếp người tài hoa bạc mệnh và long trân trọng phẩm chất con người. Đó cũng là một phần quan trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.
Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là câu chuyện của nàng Tiểu Thanh. Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời Minh . Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Vì buồn, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Mặc dù vậy, người vợ cả vẫn ghen nên đốt tập thơ, chĩ còn lại một số bài thơ tập hợp trong “phần dư” . Đó cũng chính là lí do để lại niềm thuơng cảm sâu sắc cho Nguyễn Du. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dù là cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũng là tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc.
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Hai câu thơ dịch đã thoát ý nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm ý súc tích của câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượn sự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống. Tây hồ có nghĩa là nahc81 tới nơi ở của nàng Tiểu Thanh, nhắc đến những con người tài hoa bạc mệnh. Câu thơ thứ hai xuất hiện hai từ chỉ số ít: “độc” và “nhất”, một mình nàh th7o viết về sự cô đơnqua một tập sách nhỏ, dường như tác giả và nàng Tiểu Thanh đều phải chịu củng chung một hoàn cảnh cô đơn nên có sự đồng cảm. Tuy cuộc sống, thiên nhiên có nhiều thay đổi nhưng nỗi đau của một người tài hoa bạc mệnh khó phai trong long tác giả.
Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câu đề :
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho những đau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòng thơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” – vật trang điểm của phụ nữ có thần vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Còn “văn chương” là hình ảnh hoán dụ biểu tượng cho cái tài. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lại bi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh – một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với son phấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh. Mượn vật thể để nói về người, gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữ chỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phận của Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòng đố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũng phải chịu số phận đáng thương như chủ nhân : son phấn bẽ bàng, văn chương đốt dở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn nhẫn của bọn người vô nhân trước những con người tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi ngưòi! Vượt lên trên những ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương của Nguyễn Du.
Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến :
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chung của những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mối hận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ – và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức ủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ “phong vận kỳ oan ngã tự cư”.Ông cũng cho mình là một con người tài hoa bạc mệnh, cũng là người trải qua nhiều bi kịch và không hề có câu trả lời, ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, kiến thức văn chương uyên thâm nhưng lại không thành công trong chuyện thi cử khiến ông phải làm chức quan tầm thường. Hai câu thơ đối đạ bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh. Dường như chỉ có một cách để giải thích cho nội hờn kim cổ là dựa vào kiếp “tài mệnh tương đối”
Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế :
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hà hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Ngưòi đời ai khóc Tố Như chăng)
Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của trái tim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mối hồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến để rửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự cô độc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấm lòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. Ông đặt câu hỏi 300 năm sau có ai hiểu ông không mang ý nghĩa ông đang rơi vào hoàn cảnh bi đát vì hai chữ “trung quân”.
Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sáng mãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danh dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, nhiều niềm vui của dân tộc đang nhân lên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảm thông nỗi buồn của Nguyễn Du – nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏa cho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bản dân tộc ấy :
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru ngày”
