Tìm Kiếm

Showing posts with label Văn cảm nhận. Show all posts
Showing posts with label Văn cảm nhận. Show all posts

8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"


Trần Công Minh-10A8(2)
Nghị luận 8 câu thơ đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                                Bài Làm
                 “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu đầu đoạn trích “TCLLCNCP”:
                          “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?
                           Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                           Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bong người khá thương.”
               Ngôi nhà,phòng khuê giờ đâu trở nên thật tối tăm,chật chội.Người vợ trẻ dường như đã chờ chồng từ lâu lắm rồi.Nàng luôn khắc khoải mong chờ chồng,nỗi cô đơn như bao trùm lấy nàng:
                         “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?”
               Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hôn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu,hằn nếp nỗi đau trong tim.nàng thật bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi. Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêm trong nỗi nhớ mong vô vọng. Hết ngồi lại đứng,hết đứng lại đi,tâm trạng bồn chồn,buông rèm xuống lại kéo rèm lên,chỉ một mình một bóng giữa đêm khuya..Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.
               Nội tâm của nhân vật gần như được lột tả trọn vẹn từ dáng vẻ bên ngoài đến những xáo trộn bên trong.Đạp lại cho những mong mỏi của nàng chỉ có một sự im lặng, im lặng đến rợn người. Nàng không khóc mà ta như cảm được bao dòng lệ chứa chan tủi hờn đã cạn,đã thấm sâu vào nỗi buồn mênh mang không lối thoát.
                             “Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
                              Muộn chứa đầy hãy thổi thành cơm.”
               Trong sự cô đơn,lẻ loi người chinh phụ lại càng mong có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình:
                           “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                              Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
                Có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?Không ai cả! Chỉ có một mình nàng trong canh vắng,nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác.Phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát của nàng?Có thể như vậy.Nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Một chiếc đèn khuya in bóng dáng lẻ loi của một người con gái trong canh trường liệu có xua tan được phần nào sự cô tịch của đêm?hay nó càng khoắc khoải sâu hơn nữa cái hình ảnh đáng thương đó.Tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của con người.Biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa ,mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”.Hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy.Nhìn ngọn đèn cháy năm canh,dầu đã cạn,bấc đã tàn,nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân trách phận.Thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.
                         “     Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”    
                Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
                Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động sự oán ghét chiến tranh phong kiến và niềm khao khát tình yêu,hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc trong xã hội cũ.

Thiên nhiên quanh ta


    TÊN:Nguyễn Quốc Trí          BÀI VIẾT SỐ 1                  LỚP:10A8
ĐỀ:Cảm nhận của anh/chị vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người 
BÀI LÀM
  Từ ngàn xưa,từ khi máy móc,công nghệ hiện đại chưa ra đời,con người chúng ta và thiên nhiên đã có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời.Và rồi dù càng ngày càng có nhiều công cụ,máy móc ra đời nhưng xuyên suốt qua hàng thế kỉ,thiên nhiên vẫn khẳng định vị thế và vai trò to lớn của nó đối với đời sống con người.
  Vậy thiên nhiên là gì ?Và vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người là gì ?Theo như trong kinh thánh thì thượng đế trong những ngày đầu tiên đã tạo nên trời đất,sông suối,rừng núi,biển sâu cùng vô vàn thụ tạo và tất cả chúng đã được con người chúng ta gộp lại dưới cái tên chung là thiên nhiên.Vậy chúng ta có thể định nghĩa thiên nhiên là những thứ không phải do con người tạo ra mà là món quà quí giá mà con người ta được trao ban.Đó chính là nơi mà con người lẫn động vật đều dựa vào nó mà sống sót.Còn về vai trò thì tất nhiên là vô cùng lớn.Ngay từ không khí mà con người chúng ta hít thở từng giây từng phút để sống cũng là từ thiên nhiên,và còn gì quí hơn thế chứ.Dù con người có thể tạo ra bao máy móc hiện đại cách mấy đi nữa thì nào có thể thay thế được vai trò của thiên nhiên,mà chẳng phải để tạo ra những máy móc đó thì đều phải khai thác nguyên liệu từ thiên nhiên mà ra sao.Vậy vai trò của thiên nhiên là vô cùng to lớn đối với đời sống con người chúng ta là điều không thể phủ định.
  Vậy tại sao thiên nhiên lại có vai trò to lớn đối với đời sống con người ?Con người chúng ta ngoài nhu cầu về vật chất thì còn có vốn sống tinh thần là nhu cầu không thể thiếu mà thiên nhiên thì lại là nguồn đáp ứng cho các nhu cầu đó.Ở trong nghệ thuật,thi ca thiên nhiên là nơi gửi gắm,chia sẻ buồn vui,làm cho tâm hồn thêm thanh cao,trong sáng.Ta có thể lấy bài thơ ‘‘Ngắm trăng’’của Hồ chủ tịch làm ví dụ.Trước vẻ đẹp huyền dịu của thiên nhiên,vị chủ tịch vĩ đại đã quên đi cái phút chốc phũ phàng,nghiệt ngã chốn lao tù để thảnh thơi mà ‘‘thưởng nguyệt’’như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời.Vẻ đẹp thiên nhiên miêu tả trong lời thơ thật giản dị mà độc đáo:ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm,tri kỉ của người tù.Thiên nhiên quả là một món quà to lớn của nhân loại,bởi đắm sâu trong thiên nhiên là vô vàn vẻ đẹp thần bí,hùng vĩ,tráng lệ,thanh cao mà đã khiến con người ta ngây ngất qua hàng thế hệ.Có bao giờ các bạn để ý đến vẻ đẹp đó chưa ?Để tâm tới vẻ đẹp của hàng cây lấp lánh sương mai trong nắng sớm buổi bình minh hay cái ánh chiều tà lặng dần dưới dòng nước dát bạc.Rồi còn vẻ đẹp của những cánh rừng xanh bạt ngàn hay thảm lúa vàng óng ánh trải tận chân trời.Dù ở thành phố đông đúc hay dù chốn núi đồi hoang sơ thì thiên nhiên vẫn luôn là mảng màu tươi đẹp của cuộc sống.Thiên nhiên đóng một vai trò hết sức là quan trọng trong cuộc sống của con người bởi nó là chỗ nguồn cho mọi sự sống,cho vốn sống tinh thần và cho niềm vui được trọn đầy.Vai trò của thiên nhiên thật sự không thể nào thay thế,vì vậy mà mới nói thiên nhiên đúng là một món quà vô giá của tạo hóa.
  Nhưng mà có lẽ bởi vì nó là món quà vô giá mà nhiều người cho nó là vô giá trị.Đó là những con người ngu ngốc khai thác rừng một cách quá bừa bãi chỉ để phục vụ cho nhu cầu lợi ích riêng của họ.Họ không hề để ý hậu họa sau này.Khi những cánh rừng bị phá hủy thì điều dẫn tới sẽ là thiên tai,lũ lụt triền miên và tất nhiên kẻ chịu thiệt sẽ phải là con người.Thiên nhiên là người bạn tốt của con người nhưng nếu ta không biết quí trọng nó thì nó sẽ trở mình thành thiên tai,tai họa cho ta.
  Nhưng nói đi cũng phải nói lại,con người chúng ta từ ngàn xưa đã nhận ra vai trò to lớn của thiên nhiên và tới ngày nay con người vẫn không ngừng góp sức bảo vệ thiên nhiên.Và đó chính là thứ mà chúng ta cần phải noi theo.Chúng ta là những con người nằm dưới sự che trở của thiên nhiên vì vậy chúng ta cần phải tích cực bảo vệ nó.Chúng ta có thể giúp những việc nhỏ theo sức của mình như trồng cây xanh,quyên tiền cho các quỹ bảo vệ môi trường hay tham gia các hoạt động như ‘‘mùa hè xanh’’.Hãy luôn nhớ phải quí trọng thiên nhiên bởi nó đóng vai trò rất lớn đối với đời sống con người chúng ta.
  Thiên nhiên là một món quà vô giá của tạo hóa,vai trò của nó đối với cuộc sống chúng ta là vô cùng to lớn và không thể nào thay thế được.Vì vậy chúng ta phải yêu quí và bảo vệ thiên nhiên.Mong rằng thiên nhiên sẽ mãi là bạn của chúng ta và hy vọng chúng ta cũng sẽ là người bạn tốt với thiên nhiên.Hỡi thiên nhiên người bạn thân thương xin hãy giúp cho quả đất luôn mãi một màu xanh nhé.
NGUYỄN QUỐC TRÍ

Những ngày đầu tiên vào VTS




Họ tên học sinh:Hà Nguyên Khuê Tú     Lớp:10A8
BÀI VIẾT SỐ 1
Đề:Cảm nhận của anh chị trong những ngày đầu bước vào trường THPT Võ Thị Sáu.
Bài làm
    Đây không phải là lân đầu tiên tôi bước chân vào ngôi trường mới.Tôi đã trải qua nhiều khoảng thời gian như lần đầu bước vào trường tiểu học,trường trung học cơ sở,mỗi lần như vậy lại có một cảm giác rất riêng.Và lần này cũng thế lần đầu bước vào trường THPT Võ Thị Sáu ngôi  trường hoàn toàn xa lạ nhưng đó là ngôi trường tôi chọn và quyết tâm thi đậu để được vào.
    Mặc bộ đồng phục mới bước vào trường tôi chưa từng tới trước đây,quang cảnh mới,những gương mặt mới làm tôi cảm thấy vô cùng phấn khích.Cánh cổng trường mở rộng ngày đầu tiên đón học sinh lớp 10 mới cùng với niềm háo hức của tất cả học sinh và cả giáo viên.Còn tôi khi vừa bước vào trường tôi chỉ biết đứng ngắm trường mới của mình.Trường Võ Thị Sáu tuy có phần cũ kỉ vì đã thành lập từ rất lâu nhưng vẫn còn tồn tại nét đặc trưng của ngôi trường truyền thống Việt Nam.Sân trường rộng rãi,rất nhiều cây cùng những băng ghế đá dọc theo các đường đi.Giữa sân trường là cột cờ cao sừng sững với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới trên đỉnh.
    Tôi chọn ban D nên được xếp vào lớp 10A8 ban sáng.Lớp tôi ở tầng 1 nằm trong góc kế bên 10A9,lớp tôi rộng,sạch sẽ và khang trang,bàn ghế cũng rất sạch đẹp.Tôi được ngồi bàn 2 kế cửa số và cửa lớp.Lớp còn được trang bị những thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc học tập của học sinh chúng tôi.Tôi rất thích và hài lòng với lớp mình.
     Vào trường tôi gặp các thầy cô giám thị trước tiên,các thầy cô ân cần kiểm tra trang phục,tác phong của học sinh.Những ngày đầu tiên đi học và tất cả những ngày thứ 2 các học sinh trong trường đều được nghe cô hiệu phó và các thầy cô giám thị nhắc nhở,thông báo.Khi được điều động lên lớp tôi được gặp cô giáo chủ nhiệm năm nay.Cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi dạy môn toán có dáng người mảnh mai và đặc biệt cô rất xinh đẹp.Cô có giọng nói rất cá tính nhưng rất thân thiện. Nghe cô nói tôi không còn cảm giác xa lạ nữa mà rất thân thuộc.Đi học những ngày đầu tôi cảm thấy các thầy cô trong trường đều như cô giáo tôi hiền nhưng vẫn nghiêm khắc.Tôi đã bắt đầu thích môi trường mới này.
    May mắn tôi được học chung lớp với người bạn thân và vài người bạn cũ.Tôi cảm thấy rất vui nhưng tôi cũng muốn kết bạn với những bạn khác trong lớp nữa.Khi ngồi trong lớp mới này thi thoảng tôi rất nhớ về lớp cũ cùng những người bạn đã gắn bó nhiều năm và mong rằng những người bạn mới tôi sắp có đây sẽ như những người bạn cũ của tôi luôn giúp đỡ và quý mên tôi.
    Điều đặc biệt khi bước chân vào cấp 3 chính là mặc áo dài.Là một nữ sinh tôi ấn tượng nhất với việc mặc áo dài vì từ trước tới nay tôi chưa được mặc bộ áo truyền thống của dân tộc trong cương vị là nữ sinh.Tôi rất thích mặc áo dài vào mỗi thứ 2,nữ sinh mặc áo dài là một hình tượng đẹp của đất nước.Trường tôi đã giữ được truyền thống này từ lâu,mong sao truyền thống này sẽ được giữ mãi mãi vì đó là nét đẹp của Việt Nam.
    Dù chỉ mới vào trường THPT Võ Thị Sáu được vài ngày nhưng tôi đã cảm thấy chắc rằng đây là môi trường phù hợp với tôi và sẽ gắn bó cùng tôi 3 năm cấp 3.Cảm giác những ngày đầu dù xa lạ thế nào nhưng cũng khiến tôi vui.Tôi tự nhủ rằng sẽ cố gắng học thật tốt để không phụ lòng gia đình,những thầy cô trong trường đã tận tâm dạy dỗ và cả ngôi trường


8 câu cuối " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

ĐỖ NGỌC ANH THƯ ------ LỚP : 10a8------STT:35
ĐỀ : CẢM NHẬN CỦA ANH (CHỊ) VỀ 8 CÂU CUỐI CỦA ĐOẠN TRÍCH “TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ”
Nhắc đến Đặng Trần Côn ta thường nhớ đến ông là một nhà thơ sống vào đầu thế kỉ XVIII, mặt khác tên tuổi của ông còn gắn liền với tác phẩm nổi tiếng “Chinh phụ ngâm” .Trong đó 8 câu cuối của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm qua việc thể hiện khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ trong thời chiến loạn
“Lòng này gửi gió Đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đền non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu
Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Nhớ hình bóng của người chồng , người chinh phụ thỗn thức hướng cái nhìn nội tâm về miền biên ải xa xôi.Nếu như ở khổ trước người chinh phụ càng cảm thấy cô đơn buồn sầu tới bao nhiêu thì ở 8 câu này nỗi nhớ nhung của người chinh phụ lại càng tăng lên bây nhiêu cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải . Trạng thái lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói ra nhưng ta vẫn cảm nhận được , thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giả
Đầu tiên tác giả đã nhân hoá gió đông như một người đưa tin đến non Yên nhằm nhấn mạnh nỗi mong nhớ lo lắng của người chinh phụ về người chồng
 Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Vì quá thương nhớ chồng mà người vợ phải nhún nhường xin hỏi ngọn gió để gửi tin cho chồng mình, phải nói đó là một người đưa tin đặc biệt , đưa một cái tin đặc biệt đó là cái tin về tình cảm yêu thương nhung nhớ của người vợ giành cho người chồng nơi chinh chiến.Ngoài ra cái tin ấy được đưa đến”non Yên”- một vùng hẻo lánh xa xôi nơi người chồng đang xông pha trận mạc ,khốn nguy vô cùng .Qua việc dùng bút pháp nhân hoá , hình ảnh ước lệ “non Yên” , “gió Đông”,câu hỏi tu từ tác giả mở ra không gian mênh mông gợi thêm nỗi trống trãi cô đơn cho cảnh vật từ đó xoáy sâu vào sự nhớ nhung khắc khoải, da diết của người chinh phụ
Nỗi nhớ đằng đẳng ấy làm nàng mòn mỏi cuối cùng được nâng lên thành nỗi đau, một nỗi đau vô hình đã dược tác giả tạo hình hài qua 4 câu
 Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu
Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cùng với nỗi nhớ thương mong đợi ,từ “đằng đẵng” gợi cảm giác triền miên liên tục tưởng kéo dài đến vô tận nên được tác giả hình dung bằng sự so sánh với đường lên trời.nỗi nhớ của người chinh phụ đằng dẵng, miệt mài,không thể nguôi ngoai và không thể dùng toán học mà cân đếm được.Nhưng trớ trêu thay khoảng cách giữa nàng và người chồng dường như khó chạm tới dược , sự xa cách nghìn trùng mây .Bằng việc mở rộng không gian ,”trời thăm thẳm xa với khôn thấu”như là lời than thở,ai oán thể hiện sự tuyệt vong của người chinh phụ sau nhiều ngày tháng mòn mỏi đợi tin chồng và chính từ đó nỗi đau xuất hiện, từ “đau đáu” biểu lộ sắc thái tăng tiến,sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa đắng cay nối dài bất tận trong lòng người chinh phụ
Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ thấy cảnh vật vô hồn, thê lương như tâm trạng của mình lúc bấy giờ
                            Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                            Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Đó là mối quan hệ giữa con người và tâm cảnh , người vui thì  tâm trạng vui thấm vào cảnh vật nhìn đâu cũng thấy toàn niềm vui chất chứa sự sống.Còn người buồn thì nỗi buồn thấm vào tâm can nên nhìn cảnh vật thấy sầu não ,thê lương.Ỡ đây hình ảnh “cành cây sương đượm”,”tiếng trùng”,”mưa phun” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa sâu lắng của người chinh phụ ,sự mòn héo của cảnh vật hay do lòng người mòn héo mà ra .
Tác giả đã sử dụng điêu luyện thể thơ song thất lục bát, phối hợp các hính ảnh ước lệ “non yên”,”gió Đông”,với hình ãnh ẩn dụ “sương đượm”,”mưa phun” ,đặc biệt là sự thành công trong bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh ngụ tình tác giả đã đưa người đọc qua các cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ trình một cách tự nhiên nhất và thể hiện ước mơ khát vọng  chính đáng của họ về tình yêu và hạnh phúc
Với cách dùng từ hình ảnh ước lệ ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tình tế khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ .Đồng thời thể hiện sự thương cảm sâu sắc của tác giả với ước mơ chính đáng của người phụ nữ cũng là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa là biểu hiện của cãm hứng nhân văn cho toàn doạn trích
 còn thiếu  kết luận????
                           

8 câu cuối "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"


Trần Công Minh-10A8(3)
Nghị luận 8 câu thơ cuối “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                           Bài làm
             “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu dưới đây
                                “Lòng này gửi gió đông có tiện?
                                  Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
                                           Non Yên dù chẳng tới miền,
                                  Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
                                        Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
                                         Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
                                           Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                                   Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Trước hết là một ước mong cháy bỏng đêm ngày:
                                 “Lòng này gửi gió đông có tiện?
                                  Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
“Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ “Trài mấy thu đi tin nhạn lại-Tới xuân này,tin hãy vắng không”Gió đông là gió xuân.Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin,nhắn tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm,nơi non Yên nghìn trùng.Non yên,một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc.Hỏi gió,nhờ gió nhưng”có tiện”hay không? Nếu “tiện” thì dẫu mất ngàn vàng cũng chịu.Chỉ còn biết hỏi gió nữa mà thôi,thì sự cô đơn của “lòng này” không thể nào tả hết.Làm sao tới được non Yên,nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng,ngủ cồn rêu xanh”?Chỉ còn lại nỗi nhớ:
                                “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”.
“Nhớ đằng đẵng” nghĩa là nhớ mãi,nhớ nhiều,nhớ lâu,nhớ không bao giờ nguôi.Trong truyện Kiều cũng có câu tương tự để diễn tả nỗi nhớ nhung: “Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu”.
Câu thơ “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời” là một câu thơ tuyệt bút,vừa diễn tả một nỗi nhớ thương đè nặng trong lòng,triền mien theo thời gian đêm ngày năm tháng
(đằng đẵng) không bao giờ nguôi,vừa được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian(đường lên bằng trời).khi giải thích nghĩa câu thơ này,Nguyễn Thạch Giang đã viết :”Lòng nhớ chồng thăm thẳm dài dằng dặc vẫn có thể đến được dù có như đường lên trời”.Có thể nói,dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên cảu vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn-điệp ngữ.Cả một trời thương nhớ mênh mông.Nỗi buồn triền mien,dằng dặc vô tận:” Lòng này gửi gió đông có tiện? - Nghìn vàng xin gửi đến non Yên-Non Yên dù chẳng tới miền-          Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu…”
Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng “đằng đẵng”,nàng chinh phụ lại hỏi trời để rồi tủi thân,than trách”
                                       “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
                                         Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”
Trời ở cao xa,không chỉ là cao mà là thăm thẳm,không chỉ là xa mà trở nên xa vời,nên không thấu,không hiểu sao cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ.Nỗi nhớ càng trở nên đau đáu trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lo lắng,day dứt khôn nguôi.Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và “đau đáu”,dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.
Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh;nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cực kì điêu luyện.Tính hình tượng kết hợp với tính truyền cảm tạo nên sắc điệu trữ tình sâu lắng thiết tha:
                                         “Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                                   Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
             Nỗi thương nhớ,lúc thì “đằng đãng”,lúc thì “đau đáu”,triền mien suốt ngày đêm.Đêm nối đêm như dài thêm.Càng cô đơn thì càng thao thức.Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà thâm lạnh lẽo.nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà them lạnh lẽo.nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng “mưa phùn” mà thâm buồn nhớ.Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ,cô đơn biết bao thương nhớ,lo lắng,buồn rầu.Lòng đau đớn như bị cắt xứa,chà xát.Có thể nói hai câu thơ”Chinh phụ ngâm khúc” này rất gần gũi với hai câ “Kiều” nổi tiếng:
                                        “Cảnh nào cảnh chằng đeo sầu,
                                   Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ…”.
              Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

              Qua đoạn thơ,ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động nỗi buồn và niềm khao khát hạnh phúc của người chinh phụ giữa thời loạn lạc chiến tranh tàn khốc trong xã hội cũ.



          



8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

Trần Công Minh-10A8(2)
Nghị luận 8 câu thơ đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                                Bài Làm
                 “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu đầu đoạn trích “TCLLCNCP”:
                          “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?
                           Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                           Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bong người khá thương.”
               Ngôi nhà,phòng khuê giờ đâu trở nên thật tối tăm,chật chội.Người vợ trẻ dường như đã chờ chồng từ lâu lắm rồi.Nàng luôn khắc khoải mong chờ chồng,nỗi cô đơn như bao trùm lấy nàng:
                         “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?”
               Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hôn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu,hằn nếp nỗi đau trong tim.nàng thật bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi. Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêm trong nỗi nhớ mong vô vọng. Hết ngồi lại đứng,hết đứng lại đi,tâm trạng bồn chồn,buông rèm xuống lại kéo rèm lên,chỉ một mình một bóng giữa đêm khuya..Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.
               Nội tâm của nhân vật gần như được lột tả trọn vẹn từ dáng vẻ bên ngoài đến những xáo trộn bên trong.Đạp lại cho những mong mỏi của nàng chỉ có một sự im lặng, im lặng đến rợn người. Nàng không khóc mà ta như cảm được bao dòng lệ chứa chan tủi hờn đã cạn,đã thấm sâu vào nỗi buồn mênh mang không lối thoát.
                             “Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
                              Muộn chứa đầy hãy thổi thành cơm.”
               Trong sự cô đơn,lẻ loi người chinh phụ lại càng mong có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình:
                           “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                              Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
                Có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?Không ai cả! Chỉ có một mình nàng trong canh vắng,nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác.Phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát của nàng?Có thể như vậy.Nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Một chiếc đèn khuya in bóng dáng lẻ loi của một người con gái trong canh trường liệu có xua tan được phần nào sự cô tịch của đêm?hay nó càng khoắc khoải sâu hơn nữa cái hình ảnh đáng thương đó.Tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của con người.Biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa ,mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”.Hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy.Nhìn ngọn đèn cháy năm canh,dầu đã cạn,bấc đã tàn,nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân trách phận.Thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.
                         “     Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”    
                Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
                Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động sự oán ghét chiến tranh phong kiến và niềm khao khát tình yêu,hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc trong xã hội cũ.

Cảm nhận về nhân vật Tử Văn


Tên: Phạm Trần Yến Vy     lớp: 10a8
          ĐỀ :

Nguyễn Dữ là tác giả tiêu biểu sống vào khoảng thế kỉ XVI. Ông để lại cho đời một tác phầm duy nhất và rất có giá trị đó là “ Truyền kì mạn lục”. “ Truyền kì mạn lục là một bức tranh hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm gồm hai mươi truyện, trong đó “ CCPSDTV” là một trong những truyện tiêu biểu của “Truyền kì mạn lục”. “CCPSDTV” đã phê phán hiện thực xã hội qua những yếu tố hoang đường, phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc, đồng thời ca ngơi phẩm chất của kẻ sĩ. Kẻ sĩ ở đây chính là Ngô Tử Văn,  nhân vật trung tâm xuyên suốt toàn bộ câu truyện với phẩm chất dũng cảm, khẳng khái và cương trực.
Ngô Tử Văn xuất hiện ngay từ đầu truyện qua lời giới thiệu của tác giả. Chàng được biết đến là một người có tính tình bộc trực, khảng khái, thấy gian tà là không thể chịu nổi. Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen, có tác dụng định hướng cho người đọc hành động kiên quyết của nhân vật.
Minh chứng cho tính tình bộc trực, dũng cảm của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền của chàng. Hành động ấy là ngòi nổ cho một cuộc chiến đấu của chàng và hồn ma tên tướng giặc bại trận. Tử Văn đã chuẩn bị thật kĩ lưỡng “ tắm rửa sạch sẽ” rồi chàng “ châm lửa đốt đèn”. Trong khi ai cũng lắc đầu, lè lưỡi ngao ngán , không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền này thì Tử văn cương quyết đốt đền và “ vung tay không sợ gì cả”. Ta dẽ dàng nhận thấy được phẩm chất tiêu biều của kẻ sĩ nước Việt lúc bấy giờ thông qua nhân vật Tử Văn, một thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân, chàng đã vì nghĩa lớn, vì an lành, hạnh phúc của nhân dân mà hành động.
Sự cương trực, khảng khái của Tử Văn còn được bộc lộ qua cuộc gặp gỡ giữa chàng với hồn ma tên tướng giặc. Hồn ma tên tướng giặc tỏ ra gian trá, xảo quyệt “ tự xưng mình là cư sĩ”, buông lời mắng mỏ, uy hiếp Tử Văn, dung tà phép khiến chàng bị một cơn sốt nóng, sốt rét. Trước sự ngang ngược và quyền phép đáng sợ của tên tướng giặc, “Tử Văn vẫn mặc kệ, ngất ngưởng tự nhiên”. Thái độ ấy cho ta thấy được một niềm tin vào chính nghĩa mãnh liệt từ chàng, một khí phách cứng còi của một người anh hung trừ gian diệt bạo cho nhân dân, luôn tỏ ra điềm tỉnh dù đang đứng trước một thế lực hung  tàn.
Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Diêm Vương-người cầm cán cân công lí cũng hồ đồ, vu oan cho Tử Văn, nhưng trước hoàn cảnh như vậy. Tử Văn càng chứng tỏ mình là một người có khí phách. Chàng kiên quyết đấu tranh, dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tà bằng những lời lẽ đanh thép, “cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. Giữa chốn công đường nơi âm phủ, tính cách Tử văn vẫn bộc trực, khẳng khái, vẫn một quyết tâm sắt đá, chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Cuối cùng, chàng đã đánh lui tất cả, bảo toàn sự sống của mình, đánh bại tên tướng giặc gian trá,phục hồi chức vị cho thổ thần và được giữ chức Phán sự ở đền Tản Viên, chịu trách nhiệm  giữ gìn, bảo vệ công lí.
Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Chi tiết nhận chức Phán sự như là “ phần thưởng” của tác giả dành cho nhân vật chính, chi tiết đã thể hiện niềm tin vào sự sống: “ Ở hiền gặp lành”. Tử Văn được trở về sống với thế giới thần thánh, bất tử, một nơi dành cho những con người hiền lành, tốt bụng, dũng cảm và khảng khái.
Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt có nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính nghĩa thắng tà. Đồng thời qua tác phẩm ta cũng thấy được một bức tranh về một xã hội nhiểu nhương, cái ác lộng hành, quan lại tham nhũng lúc bấy giờ.

Cảm nhận câu 1-8 đoạn "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

Tên: Phạm Trần Yến Vy      Lớp: 10a8
Đề: Cảm nhận của em về tám câu cuối đoạn trích “ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

Đặng Trần Côn là tác giả sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông lừng thiên hạ vời nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm”. Tác phẩm “ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của ngưởi chinh phụ. Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình.

          Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động:
                   “ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
                       Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
          Đây là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả đã dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về. Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ. Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng  trở về. Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình.
                    “ Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
          Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thề hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột. Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa. Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng  dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình. Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì
                   “ Ngoài rèm thước chẳng mách tin”
          “ Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về. Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội. Chim thước chẳng mách tin, người chông yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng.
                   “ Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
          Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng .Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn-một vật vô tri vô giác- nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình.Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên.
                   “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết
                     Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
          Điệp ngữ bắc cầu “ Đèn biết chăng - đèn có biết” diễn tả nỗi tù tùng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ.Hình ảnh “ đèn” đã được lặp lại hai lần.hân vật trữ tình đã giải tỏa tâm sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiều rõ được cảm giác của người chinh phụ. Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình. Nhìn ngọn đèn  leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người.
                   “ Buồn rầu nói chẳng nên lời,
               Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
          Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “ hoa đèn”. “ Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa. Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh “ đèn không tắt trong bài ca dao
                   “ Đèn thương nhớ ai
                     Mà đèn không tắt?”
          Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ.
          Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những  tâm trạng của  người chinh phụ. Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu
  đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình.

Ngày đầu tiên vào trường THPT Võ Thị Sáu

Họ và tên : Phan Hoàng Long      Lớp : 10A15       
    Đề : Cảm nhận của anh/chị về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT
                                                   Bài làm
        Với tuổi học trò, ai cũng có cái ấn tượng đẹp đẽ của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT .Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.
        Ngày đầu tiên đến trường – đó là một buổi chiều với cái nắng chang chang , khí trời nóng nực đến nỗi ướt cả áo . Trước ngày tập trung vào trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh. Những năm học trường cấp 2 , sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hình ảnh đã in sâu vào trong kí ức của tôi . Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba - một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, không gian rộng rãi,...Bước qua cổng trường là những hình ảnh xa lạ đập vào mắt tôi . Ấn tượng đầu tiện của tôi về ngôi trường chính là cái cột cờ ngay giữa sân trường . Tôi vừa dắt chiếc xe đạp vào nơi để xe vừa ngước lên nhìn các lớp tầng trên . Tôi không ngờ rằng trong trường lại rộng như thế , khác xa với những gì tôi tưởng tượng . Tất cả đều đập vào mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.
          Khi đã ngắm vẻ đẹp khang trang của ngôi trường, tôi vội vàng chạy đi kiếm lớp vì đã sắp đến giờ vào lớp . Tôi mong là trong lớp của tôi sẽ có một số người bạn cũ cùng học chung trường cấp 2 . May làm sao, tôi gặp được bạn học cũ của tôi. Tôi rất bất ngờ khi gặp bạn cũ và bây giờ tôi thấy đỡ lo phần nào . Sau mấy phút chào hỏi nhau , tôi thấy thầy giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của thầy làm cho tôi có một điều ấn tượng tốt về thầy – người sẽ đảm nhiệm lớp tôi trong năm học này . Chính hình ảnh có của thầy đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là những người bạn mà tôi chưa bao giờ gặp . Lời đầu tiên thầy nói với chúng tôi là những lời ghi chú về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..
        Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ quần tây, áo sơ mi trắng cách điệu thêm một màu đen huyền ở cổ tay áo , tôi ra dáng là một nam sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.
Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học - Trường THPT  Võ Thị Sáu , bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi tự hứa với mình là sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.
        Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ.

Ngày đầu tiên bước vào trường THPT

Trịnh Thị Kim Ngọc
10A15

       Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những ngày đầu tiên bước vào trường Trung học PT.
Bài làm 
       Hàng năm, hoa phượng nở cũng là lúc em tạm chia tay bạn bè, thầy cô thân thương để đến với kì nghỉ hè. Nhưng năm nay lại khác là vì sau khi nghỉ hè, em sẽ không còn được học tại ngôi trường cấp 2 nữa mà sẽ bước vào một ngôi trường mới – trường Trung học cơ sở, với những thầy cô mới, bạn bè mới.  
       Cuộc sống là vậy, có niềm vui ắt sẽ có  nỗi buồn, có hội ngộ cũng sẽ có chia xa. Khi tạm biệt mái trường cấp 2 thân thuộc, bạn sẽ đến với ngôi trường cấp 3 xa lạ. Mong ước được vào ngôi trường yêu thích của em đã không thành hiện thực nên ngày đầu tiên bước vào trường mới, trong em bỗng có cảm giác man mác buồn. Vừa bước vào cổng, một ngôi trường cao rộng, khang trang, lạ lẫm hiện ra trước mắt em. Chỉ mới là học sinh lớp 10, mới bước vào trường thôi nên cảm giác của em đa phần là bỡ ngỡ, ngỡ ngàng. Tiếng lá xào xạt, tiếng chim hót ríu rít, ánh mặt trời xen qua từng khẽ lá như muốn chào đón em đến với một thế giới mới tươi vui. Mọi người ai nấy đều cười nói rôm rả, trò chuyện vui vẻ nhưng sao trong lòng em vẫn còn cảm giác lo lắng, bồn chồn. Từng bước chậm rải tiến về lớp, em thầm mong sao cho mình có thể học chung với một người bạn cũ. Tiếc thay khi bước vào lớp, những người bạn mới, những gương mặt lạ lẫm chào mừng mừng em với vài nụ cười. Tìm được một chỗ trống và ngồi xuống, em đảo mắt nhìn xung quanh lớp, cố gắng tìm một ai đó để trò chuyện. Vốn rụt rè nên em không dám bắt chuyện với ai nên chỉ biết chờ giáo viên chủ nhiệm vào lớp. Bỗng cái khều tay của ai đó làm em giật mình, một bạn gái ngồi phía sau muốn làm quen với em.
       Sau vài phút trò chuyện với bạn mới, thầy giáo chủ nhiệm lớp em bước vào. Đây là lần đầu tiên em có giáo viên chủ nhiệm là một thầy giáo. Thầy có vẻ còn trẻ, dáng người nhỏ, da ngăm đen, thầy ít khi cười nên không khí trong lớp có vẻ căng thẳng, không được sôi nổi. Do là ngày đầu tiên nên thầy chỉ làm quen với lớp, phổ biến những thông tin quan trọng và dặn dò những điều cần nhớ. Mặc dù nhìn vẻ ngoài thầy hơi lạnh lùng, nghiêm khắc nhưng em cảm nhận được trong thầy sự tận tình, quan tâm học trò.  Kết thúc buổi sinh hoạt đầu tiên, em cảm thấy sự bỡ ngỡ trước đó của mình đã biến mất mà thay vào đó là sự mong chờ đến ngày khai giảng, ngày học chính thức để có thể khoác trên mình bộ áo dài trắng như bao bạn bè.
      Cảm xúc về ngày đầu tiên đến trường Trung học Phổ thông của em có lẽ cũng sẽ giống như các bạn học sinh khác: buồn, lo lắng, cô đơn. Và những cảm xúc đó sẽ luôn đọng mãi trong lòng em như một dấu ấn không thể phai mờ của tuổi học sinh. Em sẽ cố gắng học thật tốt để thành công trong con đường đời và tự hào mình là một học sinh giỏi của trường
       

Đánh giá: Bài "Nhàn"-NBK

Như vậy, qua quan niệm sống “nhàn” được thể hiện trong bài thơ, người đọc đã nhận rõ vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là coi thường danh lợi, luôn giữ được tâm hồn trong sang, thanh cao, sống hòa nhập với thiên nhiên, với cuộc sống bình dị. Tác phẩm đã đề cao lối sống thanh cao của những nhà Nho yêu nước nhưng vì hoàn cảnh bất đắc dĩ phải sống ẩn dật. Tác phẩm “Nhàn” được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật một cách sang tạo , linh hoạt về bố cục, về cách diễn đạt. Thông qua những hình ảnh đời thường gắn liền với cuộc sống dân dã. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng giàu tính triết lí. Bên cạnh đó tác giả vẫn vận dụng một cách linh hoạt những điển tích, phép đối...thường gặp trong thơ Đường để sang tác một bài thơ chữ Nôm với những hình ảnh mang hồn dân tộc, thể hiện được quan niệm sống của một con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử.

Cảnh ngày hè- Bức tranh tràn đầy tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu đời, yêu dân, yêu nước

Họ và tên: Đinh Quang Minh
Lớp: 10A8



Nguyễn Trãi, vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là một con người tài năng kiệt xuất. Ông không chỉ để lại di sản phong phú về các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn khẳng định tài năng của mình qua sự nghiệp văn chương đồ sộ. Có thể nói, ông là người khởi đầu cho nền thơ cổ điển bằng tiếng Việt qua tập thơ Nôm “Quốc âm thi tập” nổi tiếng. Bài “Cảnh ngày hè” là một bài trong số đó, nơi mà tác giả đã gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của mình:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Bài thơ được sáng tác vào khoảng thời gian Nguyễn Trãi về ở ẩn ở Côn Sơn. Ông tạm thời xa lánh chốn kinh đô tấp nập để về với thiên nhiên trong trẻo, an lành nơi dân dã; để rồi ghi lại cảm xúc phấn chấn của mình trước cảnh vật mùa hè tưng bừng sức sống và kín đáo gửi gắm khát vọng dân giàu, nước mạnh vào bài thơ

Mở đầu bài thơ là vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên ngày hè:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Câu lục ngôn mở đầu giới thiệu hoàn cảnh sống và tâm trạng của nhà thơ lúc bấy giờ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Về hình thức, đây là sự phá cách, cách tân táo bạo trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật: Phần đề có hai câu, nay chỉ còn một câu, lại là câu lục ngôn. Bên cạnh đó, nhịp thơ 1/2/3 chậm rãi phản ánh tư thế ung dung, tự tại vốn có của tác giả. Chữ “Rỗi” tách riêng thành một nhịp thể hiện sự nhàn nhã của ông, một người luôn luôn bận rộn với việc nước, việc dân. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng mơ ước. Tác giả ngồi “hóng mát” trong cảnh “ngày trường”. “Ngày trường” là ngày dài. Đây là cảm giác về thời gian của người sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra. Với con người bận rộn, luôn muốn cống hiến như Nguyễn Trãi thì cảm giác ấy càng thể hiện rõ hơn hết. Ông rơi vào hoàn cảnh phải “hóng mát” hết ngày này qua ngày khác trong khi đất nước đang gặp khó khăn, rơi vào tâm trạng “bất đắc chí”. Một nụ cười chua chát của Nguyễn Trãi như hiện lên đằng sau câu thơ ấy... Việc đặt thanh bằng ở cuối câu là một sự cách tân mới khiến câu thơ nghe như tiếng thở dài nhưng không giống lời than thở, đồng thời thể hiện tâm hồn luôn rộng mở để đón nhận thiên nhiên và cuộc sống xung quanh của nhà thơ

Dường như, chỉ có vẻ đẹp hồn nhiên, vô tư của cảnh vật mới có thể tạm xua đi nỗi phiền muộn vương vít trong tâm hồn tác giả. Ông mở lòng với thiên nhiên:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Thiên nhiên dưới nét bút của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh quê tươi khỏe, hài hòa và tràn đầy sức sống. Cây hòe với “tán rợp giương”, xanh um, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa “phun thức đỏ” và sen hồng thì “tiễn mùi hương”. Sức sống trong cây đang “đùn đùn” dâng lên cành, lên hoa, lên lá. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào cả tâm hồn thi sĩ.. Với cách miêu tả từ gần đến xa bằng nhiều giác quan, màu sắc sinh động, hài hòa, kết hợp với các động từ mạnh, từ láy, bốn câu thơ đầu đã tái hiện được bức tranh thiên nhiêu mùa hè sinh động, căng tràn nhựa sống, đồng thời thể hiện được tình yêu thiên nhiên của nhà thơ
Nếu bốn câu thơ trên, Nguyễn Trãi chỉ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của vùng quê thôn dã thì ở hai câu thơ tiếp theo là vẻ đẹp thanh bình của bức tranh cuộc sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Từ tượng thanh “lao xao” đặt trước hình ảnh “chợ cá” làm nổi bật không khí nhộn nhịp của “làng ngư phủ”, đó là tiếng trao qua đổi lại, ồn ã tiếng nói tiếng cười. Hay tiếng ve kêu “dắng dỏi” như tiếng đàn bỗng vang lên trong “lầu tịch dương” báo hiệu chấm dứt ngày hè ở vùng quê. Tất cả những âm thanh ấy hòa lẫn vào nhau tạo nên bức tranh âm thanh sinh động, náo nhiệt, nó là hơi hướng của cuộc sống lao động cần cù, chân chất. Cảnh vật, thiên nhiên vào cuối ngày thật yên vui, thanh bình, nhưng cuộc sống thì không dừng lại...

Cỏ cây, hoa lá, con người đầy sức sống khơi dậy trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng. Đó là tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước, một tình yêu cuộc sống, yêu con người:

“Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”

“Ngu cầm”, điển tích về cây đàn của thời vua Nghêu, vua Thuấn, là thời đại thái bình thịnh trị trong lịch sử Trung Hoa cổ, được tác giả mượn để nói lên ước muốn của ông: “dẽ có” được trong tay cây đàn ấy, đàn một tiếng để dân chúng đều được giàu có, no đủ. Ẩn sau khát vọng ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quan thần tham bạo ở triều đình đương thần không còn nghĩ đến dân, đến nước. Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước. Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân. Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 3/3 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ.

Việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng những hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh vào cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh mùa hè vui tươi, đầy sức sống, qua đó nhà thơ gửi gắm lòng yêu mến quê hương đất nước, hoài bão giúp nhân dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc

“Cảnh ngày hè” không chỉ tiêu biểu cho “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi mà còn là một trong những bông hoa chữ Nôm của nền văn học Việt Nam. Bằng cách sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo, bài thơ đã làm toát lên vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước cũng như vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, thể hiện rõ tư tưởng yêu nước thương dân và tinh thần sống có trách nhiệm với dân với nước

Độc Tiểu Thanh kí -Biểu tượng của tinh thần nhân đạo trong thơ Nguyễn Du

Nguyễn Du-đại thi hào,nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII,ngoài tập thơ về “ Truyện Kiều” ông còn nỗi tiếng về chùm thơ “Độc tiểu Thanh Ký” -kể về câu chuyện nói về số phận tài hoa bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh ,qua đó ông cũng muốn nói lên cuộc đời mình cũng heo hắc như nàng, đó là một trong những sáng tác được nhiều người biết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo và làm người đọc xúc động vì tình cảm nhân đạo cao cả của nhà thơ.
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hận,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Có thể cả bài thơ được Nguyễn Du viết trong thời gian đi xứ sang Trung Quốc thăm mộ Tiểu Thanh và đọc tập thơ của nàng mà cảm động viết ra bài thơ này.Tiểu Thanh-một ngươờ con gái tài sắc nhưng bất hạnh , lấy lẽ người tên là Phùng, bị vợ cả ghen, hành hạ, nàng buồn khổ đến chết khi mới 18 tuổi. Nàng có tập thơ bị vợ cả ghen đem đi đốt.Tập thơ còn lại một phần và được người đời chép lại. Nhờ tập thơ cháy dở ấy mà ND đã sáng tác ra được những dòng thơ thương xót này:
“Tây Hồ hoa uyễn tẫn thành khư”
Câu thơ đầu mở ra cho ta thấy một hình ảnh đối lập nhau. “Tây Hồ, hoa uyễn” đối lập với “ tẫn thành khư”.Gò hoang bên cạnh cảnh đẹp Tây Hồ càng gợi nỗi thương tâm của nàng Tiểu Thanh.Cảnh đẹp ngày xưa nay đã không còn dấu vết gì,cảnh vật đã theo qui luật của tự nhiên biến đổi theo thời gian.Tác giả đã sử dụng phép hoán dụ bằng cách nhắc đến Tây Hồ để liên tưởng đến nơi mà nàng Tiểu Thanh đã từng sống.
" Độc điếu song tiền nhất chỉ thư "
Câu thơ thứ hai xuất hiện đến hai từ chỉ sốt ít đó là " độc " và " nhất".Ngồi bên cửa sổ, nhà thơ thổn thức khi đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh .Văn chương của nàng cũng chịu bi đát của hồng nhan và dường như giữa tác giả và nàng Tiểu Thanh đều phải sống trong cảnh cô đơn nên dễ có sự đồng cảm.
Qua hai câu thơ, tác giả đã cho ta thấy bài thơ như một tiếng thở dài trước sự biến thiên, dâu bể của cuộc sống tự nhiên.Tuy cuộc sống, thiên nhiên cho nhiều thay đổi nhưng tác giả vẫn nhớ,vẫn cảm thông trước nỗi đau của một con người tài hoa nhưng bạc mệnh.
Cuộc sống của nàng Tiểu Thanh kiếp người và số phận nàng luôn chịu cái số xấu đã được sắp đặt :
"Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư."
Nguyễn Du đã chọn " chi phấn" và ông đã nhân cách hoá son phấn để suy tưởng." Chi phấn " có thần chắc phải xót xa vì nó đã gắn bó với con gái bạc mệnh thế nên "Chi phấn" là một cách nói hoán dụ để nói về tài và tâm hồn nàng." Hữu thần" từ chỉ sự việc cuộc đời Tiểu Thanh và rồi " liên tử hận" nói lên cái chết oan ức của Tiểu Thanh. Chỉ bằng một câu thơ,Nguyễn Du đã tái hiện lại được bi kịch cuộc sống của Tiểu Thanh
Nguyễn Du lại một lần nữa sử dụng phép hoán dụ từ " văn chương " để chỉ cái tài,chỉ ra tâm hồn thơ của nàng.Từ ngữ " vô mệnh " cho ta thấy nàng Tiểu Thanh không có một số phận hoàn hảo,số phận cô như bị huỷ diệt .Từ " luỵ phần dư" trong nguyên tác rất hay,diễn tả được nỗi oan của văn chương mà cũng chính là nỗi oan khuất của kẻ tài hoa.Hai câu thơ đối nhau rất chuẩn.
Nguyễn Du đã nhắc đến những sự việc quan trọng nhất trong cuộc đời của Tiểu Thanh,qua đó người đọc có thể hình dung được một người có sắc,có tài nhưng có số phận bất hạnh.Có thể nói cuộc đời của Tiểu Thanh tiêu biểu cho cuộc đời của những người tài hoa,bạc mệnh.Nguyễn Du không chỉ thấu hiểu mà còn đồng cảm sâu sắc với bi kịch trong cuộc đời nàng Tiều Thanh.Tuy nhiên,mặc dù sự tài hoa bị những thế lực đen tối rắp tâm,huỷ diệt nhưng nó vẫn có một sức sông mãnh liệt,vẫn tồn tại.Cách miêu tả của Nguyễn Du gợi cho người đọc niềm tin mãnh liệt về sự trường tồn của cái đẹp.
"Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư."
Hai câu thơ tiếp theo là lời luận bàn của Nguyễn Du về lời bàn kim cổ.Nguyễn Du cho rằng từ xưa đến nay có những nỗi hờn,bi kịch khó tìm ra lời lý giải,khó tìm ra câu giải đáp như Nguyễn Du cho mình là người cùng hội,cùng thuyền với nàng Tiểu Thanh,Nguyễn Du cũng là người có tài phong vận ,tài hoa bạc mệnh cũng như nàng Tiểu Thanh vì Nguyễn Du là một người sinh ra trong gia đình quyền quý nhưng số phận phải chịu cảnh long đong,lận đận,ông có tài văn chuơng nhưng học hành,thi cử không đổ cao nhưng cuối cùng được bổ cho chức quan võ ở Thái Nguyên và thơ của ông luôn thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo,yêu nước của con người.
Hai câu thơ đối nhau đã trực tiếp bà tỏ được sự đồng cảm sâu sắc với những bi kịch của nàng Tiểu Thanh,với những số phận đau khổ,với những cảnh đời bất công, ngang trái của những kiếp hồng nhan bạc phận,của những người tài hoa dường như chỉ có một cách giải thích duy nhất cho nỗi hờn kim cổ là dựa và thuyết tài tương đố
Hai câu kết nói lên nỗi niềm của Nguyễn Du:
"Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? "
Câu hỏi tu từ được Nguyễn Du dùng đến như một câu tự hỏi mình " Chẳng biết 300 năm lẻ nữa
Có ai nhỏ lệ cho Tố Như không ?" Câu hỏi này cũng đã diễn tả được khao khát của Nguyễn Du.Ngày hôm nay Nguyễn Du đồng cảm với nỗi đau của nàng Tiểu Thanh nhưng không biết sau này hậu thế có ai hiểu cho ông không.Từ "khấp " có nghĩa là nhỏ nước mắt,thể hiện sự đồng cảm ,thấu hiểu.Ông khao khát có người tri âm,có người đồng cảm thấu hiểu cho nỗi lòng của mình. Câu hỏi tu từ "Chẳng biết...Tố Như không ?" mà Nguyễn Du đặt ra đối với hậu thế hiện tại Nguyễn Du đang sống trong những ngày cô đơn,không ai hiểu và đồng cảm cho những bi kịch trong cuộc sống của Nguyễn Du : đang sống trong nỗi niềm u uất,không thề chia sẽ cùng ai
Đặt hai câu kết trong hoàn cảnh sáng tác của bài thơ,người đọc cảm nhận được câu hỏi tu từ như một lời nhắc nhở hậu thế đừng bao giờ quên nỗi oan ức của người xưa
Bài thơ hàm súc,ngắn gọn chỉ vỏn vẹn năm mươi sáu âm tiết nhưng đã giới thiệu được những bi kịch của nàng Tiểu Thanh,đó cũng là bi kịch của Nguyễn Du-một người tài hoa nhưng bạc mệnh.Bài thơ đồng thời bày tỏ được niềm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh,dành cho những tài hoa bạc mệnh.Bài thơ cũng đề cập đến niềm mong mỏi đó là khao khát của Nguyễn Du hướng về hậu thế. Ẩn trong tác phẩm,bài thơ là sự phẫn nộ trước thế lực đen tối,muốn phá huỷ và chà đạp lên cuộc sống của con người,huỷ diệt con người. Nguyễn Du đã bày tỏ trong bài thơ về tư tưởng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc."Độc Tiểu Thanh Kí " là một bài viết bằng chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du ,sử dụng phép đối va khả năng diễn đạt giàu tính gợi hình,gợi cảm,có sự thống nhất trong những mặt đối lập và ngôn ngữ giàu chất trữ tình,có tính triết lý.
Chưa tới 200 năm kể từ khi bài thơ này ra đời,hậu thế đã hiểu được nỗi lòng và tâm sự của Nguyễn Du,hậu thế cũng lý giải được nỗi hờn kim cổ mà Nguyễn Du đã phải trải qua.
Tố Hữu đã thay mặt cho hậu thế để viết những vần thơ bày tỏ sự tri âm với Nguyễn Du :
"Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn nam sau nhờ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ phu mỗi ngày "
(Trích " Kính gửi cụ Nguyễn Du " )
Tên: Huỳnh Ngọc Minh Thư
Lớp : 10a8

Độc Tiểu Thanh ký-Tiếng lòng của người tri âm

Đề: Nghị luận văn học: Độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du
Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ phận thơ chữ Hán có vai trò khá đặc biệt. Đó là những bài mà Nguyễn Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cảm; bày tỏ những day dứt trăn trở của mình.Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm sự ấy của Nguyễn Du lại có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Từ đó, ta có thể thấy rằng bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa nỗi đau thương người và long thương mình, giữa sự cảm thông cho kiếp người tài hoa bạc mệnh và long trân trọng phẩm chất con người. Đó cũng là một phần quan trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.
Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là câu chuyện của nàng Tiểu Thanh. Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời Minh . Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Vì buồn, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Mặc dù vậy, người vợ cả vẫn ghen nên đốt tập thơ, chĩ còn lại một số bài thơ tập hợp trong “phần dư” . Đó cũng chính là lí do để lại niềm thuơng cảm sâu sắc cho Nguyễn Du. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dù là cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũng là tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc.
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)

Hai câu thơ dịch đã thoát ý nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm ý súc tích của câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượn sự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống. Tây hồ có nghĩa là nahc81 tới nơi ở của nàng Tiểu Thanh, nhắc đến những con người tài hoa bạc mệnh. Câu thơ thứ hai xuất hiện hai từ chỉ số ít: “độc” và “nhất”, một mình nàh th7o viết về sự cô đơnqua một tập sách nhỏ, dường như tác giả và nàng Tiểu Thanh đều phải chịu củng chung một hoàn cảnh cô đơn nên có sự đồng cảm. Tuy cuộc sống, thiên nhiên có nhiều thay đổi nhưng nỗi đau của một người tài hoa bạc mệnh khó phai trong long tác giả.

Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câu đề :
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho những đau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòng thơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” – vật trang điểm của phụ nữ có thần vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Còn “văn chương” là hình ảnh hoán dụ biểu tượng cho cái tài. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lại bi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh – một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với son phấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh. Mượn vật thể để nói về người, gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữ chỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phận của Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòng đố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũng phải chịu số phận đáng thương như chủ nhân : son phấn bẽ bàng, văn chương đốt dở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn nhẫn của bọn người vô nhân trước những con người tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi ngưòi! Vượt lên trên những ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương của Nguyễn Du.
Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến :
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chung của những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mối hận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ – và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức ủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ “phong vận kỳ oan ngã tự cư”.Ông cũng cho mình là một con người tài hoa bạc mệnh, cũng là người trải qua nhiều bi kịch và không hề có câu trả lời, ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, kiến thức văn chương uyên thâm nhưng lại không thành công trong chuyện thi cử khiến ông phải làm chức quan tầm thường. Hai câu thơ đối đạ bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh. Dường như chỉ có một cách để giải thích cho nội hờn kim cổ là dựa vào kiếp “tài mệnh tương đối”
Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế :
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hà hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Ngưòi đời ai khóc Tố Như chăng)
Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của trái tim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mối hồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến để rửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự cô độc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấm lòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. Ông đặt câu hỏi 300 năm sau có ai hiểu ông không mang ý nghĩa ông đang rơi vào hoàn cảnh bi đát vì hai chữ “trung quân”.
Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sáng mãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danh dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, nhiều niềm vui của dân tộc đang nhân lên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảm thông nỗi buồn của Nguyễn Du – nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏa cho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bản dân tộc ấy :
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru ngày”