Tìm Kiếm

Showing posts with label Lớp 10. Show all posts
Showing posts with label Lớp 10. Show all posts

Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Cách dùng số từ, danh từ trong câu thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có gì đáng chú ý ? Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng tác giả như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

–  Cách dùng số từ, danh từ trong câu thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có điểm đáng chú ý là:

+  Trong câu thơ thứ nhất, nhà thơ dùng số từ “mỗi” lặp lại ba lần một cách có chủ ý, kết hợp cùng với các danh từ đứng sau chỉ công cụ nông ngư là: mai, cuốc, cần câu tạo nên câu thơ có nhịp điệu đều đặn: “Một mai, một cuốc, một cần câu” (Một mai, / một cuốc, / một cần câu – nhịp 2 / 2 / 3). Trong câu thơ thứ hai, nhịp điệu thơ cũng có sự ngừng nghỉ giống như vậy: Thơ thẩn / dầu ai / vui thú nào ( nhịp 2/ 2 / 3)

+  Nhịp điệu trong hai câu thơ đầu thể hiện phong thái thong thả, ung dung, thoải mái của thi nhân trong cảnh sống giản dị, không xô bồ.

–  Hai câu thơ ấy cho ta hiểu rõ hơn về hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng tác giả trước cảnh sống ấy. Đôi câu thơ thể hiện quan niệm của thi nhân về cuộc sống “nhàn”. Đó không phải cuộc sống sung túc, giàu sang, nhiều tiền của tới mức không cần làm việc vẫn có thể sống nhàn nhã. Đối với thi nhân, cuộc sống ung dung trong những công việc hàng ngày, lúc lao động, khi vui thú điền viên, cuộc sống tuy nghèo nhưng thanh đạm mới thực sự là cuộc sống thanh nhàn và chan hoà cùng thiên nhiên. Ba chữ “một” được sử dụng trong một câu thơ đã cho thấy nhu cầu về cuộc sống của tác giả không cần những thứ cao sang mà chỉ cần những điều giản dị, dân dã. Từ đó, ta có thể thấy được thi nhân là một người ưa sự bình dị, bình thường mà thoải mái.

Câu 2: Anh (chị) hiểu thế nào là “nơi vắng vẻ”, “chốn lao xao” ? Quan niệm của tác giả về dại, khôn như thế nào? Tác dụng của nghệ thuật đối trong câu 3, 4?

Gợi ý trả lời:

 Theo hoàn cảnh được miêu tả trong bài thơ, ta có thể hiểu “nơi vắng vẻ”, “chốn lao xao” là những vùng đất có tính chất đối lập nhau: nơi ít người, nơi xôm tụ; nơi tĩnh lặng, nơi ồn ào; nơi bình yên, nơi xô bồ…

–  Trong bài thơ có sự mâu thuẫn so với quan niệm thông thường về quan niệm “dại”, “khôn”. Hai cụm từ: “ta dại” và “người khôn” khẳng định phương châm sống và cách nhìn nhận của tác giả về hai kiểu người trong xã hội. Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định rằng bản thân “dại” vì tìm “nơi vắng vẻ”, đối lập với người đời luôn chọn “chốn lao xao”. “Ta dại” không có nghĩa là ta ngu dại mà đây là cách nói khiêm nhường của tác giả theo cách nhìn nhận của người đời về việc chọn lẽ sống yên bình ẩn dật của ông. Tìm nơi “vắng vẻ” không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao, sống cuộc đời thanh bình, yên ổn. Trái lại, chạy theo “chốn lao xao” là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất đầy rẫy những cuộc chiến tranh giành, mưu mô hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi mới là lẽ sống nhàn thực sự. Người xưa có câu “Đại trí như ngu” nghĩa là người có trí tuệ lớn thường không khoe khoang, bề ngoài xem rất vụng về, dại dột. Vì vậy mà khi tác giả nói “ta dại” cũng chính là thể hiện cách nhìn đời rất am tường, thấu hiểu cái người đời muốn và cái mình cần của một nhà Nho ẩn dật.

 

–  Đây là cách nói theo quan niệm sống của người thường, đối lập với quan niệm của tác giả. Tác giả mượn lời nói, lối nói và lối nghĩ của người đời để diễn đạt quan niệm sống của mình, khẳng định lẽ sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Tạo sự đối lập giữa “nơi vắng vẻ” với “chốn lao xao” và sự đối ngược trong quan niệm “dại”, “khôn”, tác giả muốn khẳng định cách sông nhàn cư, ẩn dật, xa lánh chốn vinh hoa phù du mới là lẽ sống an yên hơn cả. Hai vế đối ấy đã tạo nên sự tương phản, từ đó làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.

Câu 3: Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu 5 và 6 có gì đáng chú ý? Hai câu thơ này cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào? Phân tích giá trị nghệ thuật của hai câu thơ này?

Gợi ý trả lời:

–  Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu 5 và 6 hết sức giản dị, đạm bạc mà vẫn đầy vẻ thanh cao, hướng người đọc tới lối sống hoà nhập cùng cỏ cây hoa lá, thiên nhiên.

–  “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Hai câu thơ này cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm không giàu sang, quyền quý nhưng vẫn rất thanh cao. Nhịp thơ của hai câu là nhịp 1 / 3 / 1 / 2. Nhịp một nhấn mạnh vào các mùa trong năm, ăn, tắm đều thích thú, mùa nào thức ấy. Cách sống nhàn của tác giả không tách rời mà hoà hợp với tự nhiên.

 

–  Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ này được thể hiện ở những hình ảnh hết sức bình dị, dân dã: măng, trúc, giá, hồ sen, ao. Tất cả vật phẩm này đều gần gũi với cuộc sống chốn quê đầy vẻ chất phác, tái hiện khung cảnh sinh hoạt rất đạm bạc mà vẫn thoải mái. Cho dù sinh hoạt ấy còn khổ cực, còn thiếu thốn nhưng đó là thú nhàn, là cuộc sống hoà nhịp với tự nhiên của con người. Từ trong cuộc sông nhàn ấy là toả sáng nhân cách. Cái thú của cảnh sống nhàn, sống ẩn dật mang tính triết lí của các Nho sĩ là ở điểm họ chấp nhận cuộc sống của một người dân nghèo để tìm được sự thanh thản, thoải mái trong tâm hồn. Trong thời loạn lạc, người hiền tài có nhân cách cao đẹp nếu không xa lánh cuộc tranh đua chốn quan trường bon chen tầm thường, tìm đến nơi yên tĩnh, vui thú cùng cỏ cây, vạn vật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống hoà mình với thiên nhiên, vũ trụ thì khó có thể giữ được cốt cách thanh cao, trong sạch của mình.

Câu 4: Với điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm ?

Gợi ý trả lời:

–  Với điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối là điển tích Thuần vu, ta có thể thấy hai câu cuối của bài thơ thể hiện quan niệm sống mang tính triết lí của tác giả: sống ẩn dật, xa lánh cuộc đời bon chen để giữ cho tâm hồn, cốt cách được trong sạch, không vướng bận với “phú quý” – tượng trưng cho sự giàu sang, nhà nho chỉ thấy “tựa chiêm bao” (như trong giấc mộng) nghĩa là có mà cũng như không, rất phù phiếm, không có gì quan trọng, không đáng lưu tâm.

–  Đây là triết lí của các nho sĩ ẩn dật muốn thoát khỏi chốn quan trường để giữu thân trong sạch. Họ nhìn thấy sự thịnh suy của vương triều là quy luật của vũ trụ, đất nước không thể tránh khỏi. Mỗi triều đại đều có lúc hưng thịnh, lúc suy vong. Nhà nho tài giỏi và có khả năng thấu hiểu được quy luật đó mới là người hiểu được ý Trời. Với họ, khi nào nên ra làm quan, dùng tài năng của mình phụng sự đất nước và khi nào nên về ở ẩn, giữ tấm lòng mình không bị vấy bẩn bởi ganh đua chốn quan trường, tất cả đều tuân theo “mệnh Trời”. Thực chất đó chính là quan niệm thuận theo ý tự nhiên, ý Trời ở đây được hiểu với tư cách là hình ảnh của quy luật tự nhiên và xã hội. Trong cả hai trường hợp, nhà nho chân chính đều tự phải ghi nhớ bản thân mình cần giữ gìn sự cao quý trong tâm hồn. Vì thế, họ phải giữ cho cốt cách thanh sạch, không bị thói đời làm hoen ố. Hai câu cuối của bài thơ đã cho thấy tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại diện cho tấm lòng của một kẻ sĩ thanh cao và trong sạch, có tài có đức, biết lo cho dân cho nước.

 

Câu 5: Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì? Quan niệm đó là tích cực hay tiêu cực?

Gợi ý trả lời:

–  Qua bài thơ, ta có thể hiểu được quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là đến với cuộc sống cách xa, lánh khỏi nơi bon chen danh lợi, tìm kiếm nơi yên tĩnh để bản thân được hoà hợp với thiên nhiên, nhờ thế mà giữ cho cốt cách nho sĩ của mình được trong sạch.

–  Quan niệm sống nhàn nói chung có mặt tích cực nhưng cũng có mặt tiêu cực trong thời đại bấy giờ:

+  Quan niệm đó tích cực bởi nó không ủng hộ những thế lực xấu và thói xấu trong xã hội, giúp cho người nho sĩ ở ẩn giữ cho cốt cách được trong sạch, thanh cao, không phải sống trái với lương tâm của mình.

+  Quan niệm này tiêu cực bởi hành động, cách sống ẩn dật là sự xa lánh, thoát li cuộc sống hiện thực, không cho bản thân cơ hội cải thiện xã hội, giúp đỡ nhân dân. Hiếm có người có thể như Nguyễn Bỉnh Khiêm, không vào chốn lao xao nhưng không phải là không băn khoăn, trăn trở trước nhân tình thế sự.

–  Vì vậy, cần phải hiểu lối sống nhàn ở đây là lối sống tích cực, thân nhàn nhưng tâm không nhàn, cũng như lối sống ẩn dật của nhiều nho sĩ bất đắc chí: Chu Văn An, Nguyễn Trãi…

Soạn bài: “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du) – văn lớp 10

Soạn bài: “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Anh (chị) hiểu vì sao Nguyễn Du lại đồng cảm với số phận của Tiểu Thanh ?

Gợi ý trả lời:

–  Theo tôi, Nguyễn Du đồng cảm với nàng Tiểu Thanh bởi Nguyễn Du nhận ra Tiểu Thanh cũng là con người có tài năng, có nhan sắc nhưng số phận lại gặp nhiều bất hạnh,  bị vùi dập, đày đọa và cuối cùng phải chịu cái chết oan ức. Cái chết của nàng là bằng chứng xót xa cho số kiếp của người con gái  “hồng nhan bạc mệnh”. Nguyễn Du đã từng thể hiện nỗi niềm thương xót,  sẻ chia nỗi lòng của mình với biết bao người tài năng mệnh bạc như vậy. Điều đó đã được ông thể hiện rõ trong “Truyện Kiều” (Đoạn trường tân thanh) từ sự xuất hiện của nhân vật Đạm Tiên đến số phận trôi nổi, bấp bênh, trải nhiều sóng gió của nàng Kiều, hay như trong các tác phẩm thi ca khác, ông cảm thương cho người phụ nữ bị áp bức tới tiếc thương cho tài năng của người đàn bà gảy đàn ở Long Thành không được coi trọng. Tới tác phẩm này, ông cũng không khỏi cảm thương và tiếc nuối cho cuộc đời của Tiểu Thanh đều là kiếp người tài hoa nhưng bạc phận.

–  Hơn thế nữa, tác giả cảm thông cho nàng Tiểu Thanh không chỉ vì ông có tấm lòng nhân đạo sâu sắc mà còn bởi tác giả cho rằng mình “cùng hội cùng thuyền” với Tiểu Thanh: cùng là người có tài năng, có phẩm chất nhưng số phận bất hạnh, gặp nhiều sóng gió.

Câu 2: “Nỗi hờn kim cổ” có nghĩa là gì? Vì sao tác giả lại cho là “khó có thể hỏi trời”?

Gợi ý trả lời:

Trong bài thơ, Nguyễn Du viết: “Cổ kim hận sự thiên nan vấn” nghĩa là nỗi hận đó từ xưa tới nay đều không thể giải đáp được, hỏi trời không thấu, hỏi đất không hay. Nguyễn Du đã khơi gợi lại nỗi đau muôn thuở của con người trước số phận, sự bất lực của người đối với vận mệnh trái ngang, nghiệt ngã. Nỗi đau khổ dằn vặt tâm tư con người bao thời, tạo thành nỗi oan ức dường như không thể tìm được lời giải đáp nào tốt hơn ngoài: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” và con người trở nên bất lực trước cuộc đời, dù là tài hoa tới đâu vẫn phải chấp nhận số phận của mình mỏng manh, bất hạnh. Chính vì không thể giải đáp được sự bất công, ngang trái ấy nên con người mới phụ thuộc vào lực lượng thần linh tối cao trên trời mong tìm được lời giải đáp nhưng thực ra cũng không thể hỏi được trời, lại đi vào nỗi buồn quẩn quanh không biết làm thế nào mới giải đáp được, biến nỗi oan hờn đó thành: “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi.

–  Ở đây, ta có thể hiểu “nỗi hờn kim cổ” là bản dịch thơ dựa theo ý nghĩa của cụm từ: “Cổ kim hận sự” (nghĩa là: nỗi hận xưa nay). Qua cụm từ đó, ta thấy được cảm nhận của tác giả đối với nỗi oan tình của Tiểu Thanh là rất bất bình trước sự đối đãi bất công của số mệnh với người có tài năng. Nhà thơ có ý nói tới sự nghiệt ngã của tạo hóa luôn đối xử bất công với kẻ sĩ tài hoa là điều trước nay được nhiều nho sĩ dằn vặt, tự vấn mà không cách nào tìm ra lời đáp. Dưới thời phong kiến, các nghệ sĩ tài hoa thường khó tránh khỏi bất hạnh bởi quan niệm Nho giáo coi người có tài thơ ca đàn hát chỉ là có chút tài năng vui thú, dùng để giải trí chứ không dùng để cống hiến cho đất nước được. Vì thế mà nỗi đau khổ của người tài hoa bạc mệnh trở thành nỗi buồn chung, nỗi hận chung mà kẻ sĩ trong thời đại nào cũng mang nặng.

 

–  Tác giả cho là “khó có thể hỏi trời” – trong nguyên tác là  “thiên nan vấn”, vì theo thi nhân, đây là nỗi khổ đã định sẵn cho cuộc đời người tài hoa, bởi con người có tài ấy đã làm trời xanh phải “ganh ghét” nên dù có làm cách nào thì con người khó mà làm thay đổi được số mệnh ấy. Tư tưởng này thể hiện sự bất lực của người xưa trước những bất công trong xã hội cũng là sự bất lực trước định kiến xã hội đối với người phụ nữ, nhất là người phụ nữ có tài sắc vẹn toàn.

Câu 3: Nguyễn Du thương cảm và đồng cảm với người phụ nữ có tài văn chương mà bất hạnh, điều đó nói lên điều gì về tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du?

Gợi ý trả lời:

Nguyễn Du không chỉ thương cảm và đồng cảm với riêng số phận của nàng Tiểu Thanh mà còn thể hiện sự thương cảm và đồng cảm với những người phụ nữ có tài văn chương mà bất hạnh nói chung. Trước câu chuyện đã xảy ra rất lâu của một nữ sĩ có tài văn chương nhưng đoản mệnh, sống từ thời nhà Minh ở Trung Quốc (khoảng TK XVI), nhà thơ vẫn không khỏi xúc động tới mức viết thành một bài thơ. Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Du mang một tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng thương người, tinh thần nhân đạo sâu sắc với số phận của con người. Niềm cảm thương đó của Nguyễn Du đã vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian, không những dành cho người phụ nữ mà còn dành cho kẽ sĩ có tài mà không được trọng dụng, có tài mà số phận bấp bênh, nhiều ngang trái. Từ đó, ta có thể thấy tấm lòng của Nguyễn Du có một cảm xúc nhân đạo bao la và sâu sắc.

Câu 4: Phân tích vai trò của mỗi đoạn thơ (đề – thực – luận – kết) đối với chủ đề của toàn bài thơ.

 

Gợi ý trả lời:

–  Vai trò của mỗi đoạn thơ theo kết cấu đề – thực – luận – kết là tạo bố cục hoàn chỉnh cho bài thơ và tạo liên kết giữa các ý trong bài như một bài văn có các phần mở đầu – phân tích bình luận – kết thúc.

+  Vai trò của hai câu đề (khai) là: Mở ra toàn bộ khung cảnh, hoàn cảnh, nhân vật, sự việc, cảm xúc, tạo cái nhìn khái quát cho người đọc về cảnh vật và sự kiện xảy ra:

“Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

(Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)

Hai câu thơ đầu mang đến cho người đọc cảm giác hẫng hụt, mất mát trước khung cảnh điêu tàn, tang thương. Tây Hồ vẫn còn đó nhưng vườn hoa thì không còn, cảnh đẹp mất đi chỉ còn lại sự hoang tàn của gò đất trống. Truyện và thơ của nàng Tiểu Thanh dường như còn vương lại nhưng không phải là những trang viết còn vẹn nguyên. Nó chỉ còn sót lại vài bài gọi là phần dư mà ở đây, tác giả đã hình tượng hóa nó thành “mảnh giấy tàn” vừa gợi vẻ tang thương vừa ngụ ý đó là chút minh chứng còn sót lại cho tài năng của nàng Tiểu Thanh. Còn chăng chỉ còn lại hai tâm hồn đồng điệu, thấu hiểu cho số phận của nhau. Một bên là nàng Tiểu Thanh, một bên là thi hào Nguyễn Du. Tâm hồn Tiểu Thanh chỉ còn ghi lại trên trang giấy dù chỉ ít ỏi nhưng vẫn khiênd Nguyễn Du khóc, viếng nàng “thổn thức” bên cửa sổ vì tiếc thương cho số kiếp “hồng nhan bạc mệnh”, “tài hoa bạc phận” của nàng.

+  Vai trò của hai câu tiếp theo, hai câu thực (thừa) là: Phát triển hình tượng cảm xúc nêu lên nỗi khổ của một người:

“Chi phấn hữu phần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

(Son phấn có thần chôn vẫn hận

Văn chương không mệnh đốt còn vương)

Câu thơ nói lên cảm nhận của Nguyễn Du về tài sắc và cuộc đời Tiểu Thanh: Son phấn là chỉ sắc đẹp, văn chương là chỉ tâm hồn. Nguyễn Du lại nhắc tới nỗi đau của kiếp người tài hoa bạc mệnh trong cuộc đời.

+   Vai trò của câu 5, 6, câu luận (chuyển) là: nhấn mạnh vào ý tứ và cảm xúc của tác giả được mở rộng và nâng cao lên tầm tư tưởng, từ chuyện của một người để nói lên nỗi khổ của muôn đời, muôn người. Từ chuyện của muôn đời “tự cổ chí kim”, nhà thơ lại quay về suy ngẫm chuyện một người khi nói: “ngã tự cư” chính là nói bản thân mình. Đó  cũng chính là tâm sự mang nặng nỗi niềm ưu tư, dằn vặt của nhà thơ:

“Cố kim hận sự thiên nan vấn

 

Phong vận kì oan ngã tự cư ”

(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi

Cái án phong lưu khách tự mang)

“Phong lưu”, “phong vận” hay “phong nhãn” đều là chỉ người tài hoa, người có nhan sắc. Nguyễn Du như muốn nói với Tiểu Thanh trong tâm khảm rằng nàng cũng có tài, có nhan sắc như thế lại bị nỗi oan kỳ lạ ấy, thế thì số phận của nàng cũng giống ta, vận mệnh đã định sẵn phải trải nhiều sóng gió khổ đau. Nhưng ai là người giải đáp vì sao những người tài hoa nhan sắc lại phải chịu nỗi đau oan ức kỳ lạ ở trên đời thì ngay cả Nguyễn Du cũng không tìm được câu trả lời mà chỉ có thể tìm cách lý giải rất duy tâm là do trời ghanh ghét người tài mà thôi. Đó chính là bi kịch của Nguyễn Du khi thấy được nỗi oán hờn của những số phận bất hạnh ấy nhưng lại gặp phải cảnh: “Đau đời có cứu được đời đâu” (Huy Cận).

+  Vai trò của hai câu thơ cuối bài, hai câu kết (hợp) là: Tổng kết và nâng cao cảm xúc, tính triết lí của bài thơ, tạo kết cấu hoàn chỉnh từ mở đầu tới kết thúc bài thơ, mở ra hướng suy ngẫm cho độc giả và tạo cảm xúc dư âm trong lòng người đọc:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

(Không biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng?)

Nguyễn Du đặt câu hỏi tu từ cuối bài thơ như hỏi Tiểu Thanh, hỏi người đọc nhưng thực chất là tự vấn bản thân. Hôm nay ta khóc cho số phận của nàng Tiểu Thanh vậy 300 năm sau có ai là người khóc ta cũng sẽ là người đồng cảm và thấu hiểu cho ta. Nguyễn Du hỏi Tiểu Thanh cũng như hỏi mình. Người đọc có thể thấy nỗi xót xa đến rưng rưng của nhà thơ trước số phận nghiệt ngã, vô thường. Xuân Diệu cho Nguyễn Du cất tiếng đó là “Tiếng chim cô lẻ giữa trời thu khuya”. Hai câu cuối bài thơ đã khép lại ý thơ trọn vẹn đầy xúc cảm và triết lí nhưng tấm lòng đồng cảm với người phụ nữ có tài văn chương mà bất hạnh cùng số phận của những kẻ sĩ bất đắc chí dường như đã in sâu trong lòng người đọc.

Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Xác lập mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ. Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn ?

Gợi ý trả lời:

Mối quan hệ giữa không gian – thời gian – con người trong bài thơ có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đồng nhất giữa tâm cảnh (tâm trạng con người) và ngoại cảnh (trạng thái cảnh vật). Lý Bạch tiễn người bạn tri kỉ của mình từ nơi thanh cao, thoát tục đến chốn phồn hoa đô hội, gửi gắm trong đó còn là sự lo lắng, niềm ngậm ngùi cho sự cô đơn của lòng mình.

–  Không gian ở đây không phải không gian ngẫu nhiên được miêu tả do cảm hứng của nhà thơ mà không gian này đã được nhà thơ chọn ở phía tây lầu Hoàng Hạc để miêu tả khung cảnh tiễn bạn. Theo quan niệm người Á Đông, phía tây là vùng đất tượng trung cho cõi Phật, cõi tiên. Sở dĩ như vậy là bởi Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ nằm ở phía Tây so với Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Vì thế, đối với các quốc gia có dân chúng theo đạo Phật, đặc biệt là Trung Quốc thì miền Tây là miền đất bình yên cho con người. Địa hình của Trung Quốc ở phía Tây cũng là vùng đất hoang sơ, nhiều núi cao, bí hiểm nên người xưa ít lui đến, chỉ dành riêng cho ẩn sĩ đến tu hành, lánh đời, tìm chốn bình yên. Phương Tây trở thành nơi ẩn nấp của những tâm hồn thanh cao, trong sạch, hướng về cõi an nhiên tự tại. Theo truyền thuyết còn lưu lại thì lầu Hoàng Hạc là nơi Phí Văn Vi đã tu luyện thành tiên rồi cưỡi hạc vàng bay đi. Trong lời thơ còn lưu lại:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

 

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay”

Chọn một khung cảnh thơ mộng lại đã từng là nơi có một truyền thuyết về người xưa thoát tục để đưa tiễn một người bạn tri âm trở về cuộc đời trần tục, nhà thơ có dụng ý cầu chúc cho bạn mình được có cuộc sống mới tốt đẹp. Dương Châu là nơi phồn hoa đô hội, là nơi buôn bán sầm uất, đông người qua lại. Sông Trường Giang, vì thế, trở thành địa điểm nổi bật giữa hai không gian: kẻ đi – người đến tấp nập. Đồng thời, đây cũng là dòng sông tượng trưng cho tâm tư nối liền giữa hai người: kẻ ở – người đi. Buổi tiễn đưa vì thế trở nên có ý nghĩa sâu sắc hơn.

–  Về thời gian, tác giả đã chọn thời gian mơ hồ, huyền ảo, góp phần tạo nên  một khung cảnh mang vẻ đẹp lãng mạn như chốn bồng lai tiên cảnh. Từ “hoa” ngoài chỉ sự vật thiên nhiên còn chỉ thời gian vào tháng ba có tiết xuân.

–  Về hình ảnh con người xuất hiện trong bài thơ có thể thấy qua hình ảnh một chiếc thuyền đang rẽ sóng, lướt trên những làn hoa khói đầy thơ mộng. Hình ảnh ấy gợi lên không khí mơ hồ lãng mạn của thơ Đường. Hơn nữa, Mạnh Hạo Nhiên xuôi dòng đến Dương Châu nơi phồn hoa đô hội. Một từ mà nói đến được nhiều đến thế. Mới thấy cái hay của thơ Đưòng ở “ý tại ngôn ngoại”. Hai tiếng “Cố nhân” ở đầu câu thơ được dịch là bạn, tuy đúng nhưng chưa trọn vẹn ý nghĩa của câu thơ. Bởi lẽ, “cố nhân” là người bạn gắn bó, thân thiết từ xưa, trải qua một thời gian gắn kết lâu dài và tình cảm đã trải qua nhiều sóng gió, cho dù thời gian có thể điểm những đốm bạc trên mái tóc. Buổi chia tay nhờ có hai tiếng “cố nhân” ấy mà càng thêm quyến luyến trong sự thiết tha. Hơn nữa, Lý Bạch không sử dụng cách miêu tả cuộc chia li thường tình mà là giây phút biệt li không có những li rượu tiễn nhau, không dòng nước mắt, không lời nói tạ từ. Tất cả lưu lại trong tâm trí nhà thơ và bạn tri kỉ chỉ có khung cảnh lầu Hoàng Hạc, chỉ có dòng sông với bầu trời. Khung cảnh hiện lên đượm buồn nhưng nó cũng chính là hình ảnh biểu trưng cho tình cảm sâu sắc của nhà thơ với bạn. Ngoại cảnh và tâm cảnh có sự giao hòa với nhau. Vì thế, ta có thể thấy rằng cuộc chia tay giữa Lý Bạch với “cố nhân” chính là cuộc chia tay với chốn đi về của lòng mình, với nơi mà ông đã gắn bó từ rất lâu.

 

Câu 2: Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” của “cố nhân” ?

Gợi ý trả lời:

Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” của “cố nhân” bởi đó là hình ảnh biểu trưng cho nỗi cô đơn của tác giả và tấm lòng luôn hướng về người bạn thân tình của ông. Hình ảnh cánh buồm lẻ loi ấy không chỉ là hình ảnh của thực tại mà đã trở thành hình ảnh được khắc họa qua tâm hồn nhà thơ. Tác giả đã nhìn hình ảnh cánh buồm rõ nét nhất không chỉ bởi đó là thuyền của “cố nhân” mà còn bởi tác giả có nỗi cô đơn ẩn chứa trong lòng mình cũng như nỗi buồn li biệt của Mạnh Hạo Nhiên. Đây là hình ảnh đồng điệu giữa ngoại cảnh và tâm cảnh để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả.

Câu 3: Em có cảm nhận như thế nào về tâm tình của thi nhân gửi gắm qua bài thơ ?

Gợi ý trả lời:

– Tâm tình của thi nhân đặc biệt được thể hiện rõ trong câu thơ cuối của bài thơ: “Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời”. Câu thơ chỉ có ý khơi gợi mà không miêu tả rõ nét khung cảnh. Bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, trước mắt nhà thơ, trong ánh nhìn đượm nỗi buồn li biệt. Nỗi lòng chan chứa nỗi buồn khiến cho con sông như cao dần lên, hoà nhập làm một với trời xanh. Cảnh vật hiện ra trước mắt nhà thơ theo dòng tâm trạng chia li đầy lưu luyến.

 

–  Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc, chân thành của hai nhà thơ thời thịnh Đường qua các hình ảnh mơ hồ, như thực như mộng hòa quyện với nhau. Bạn đã đi xa, cánh buồm chỉ còn là “nền ảnh” thấp thoáng như hư, như thực. Tiếp theo đó là một dòng sông chảy vào cõi trời – một khoảng không xanh biếc, rợn ngợp. Tất cả những hình ảnh ấy đều góp phần diễn tả cái nhìn dõi trông, sự dùng dằng, lưu luyến của kẻ ở – người đi. Tâm trạng của tác giả – người ở lại trở nên bàng hoàng, hẫng hụt. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy quý trọng hơn tình cảm bạn bè, tình thân hữu lâu bền là một tình cảm luôn tồn tại giữa người với người trong mọi thời đại, cần được lưu giữ và xây dựng bền chặt hơn.

Soạn bài: “Quốc tộ” (“Vận nước” – Thiền sư Pháp Thuận) – văn lớp 10

Soạn bài: “Quốc tộ” (“Vận nước” – Thiền sư Pháp Thuận) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Tác giả so sánh “Vận nước như dây mây len quấn quýt” nhằm diễn tả điều gì ?

Gợi ý trả lời:

Trong câu thơ thứ nhất, tác giả tạo hai vế so sánh “vận nước” với “dây mây len quấn quýt” như vậy nhằm diễn tả quan niệm: vận nước không chỉ do vua định đoạt mà còn phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ ràng buộc với nhân dân. Vì vậy, sự hưng thịnh hay suy vong của một đất nước không thể phụ thuộc vào một yếu tố mà thành. Nó là quan hệ của nhiều yếu tố và để giữ được vận nước phát triển dài lâu, thịnh vượng, nhà vua cùng triều thần cần chú tâm chú tâm. Tuy thiền sư Pháp Thuận không trực tiếp nói ra nhưng ta hiểu đó là lời khuyên của ông đối với việc trị quốc của vua chúa cần có đường lối trị quốc tốt, phù hợp; cần có quan hệ ngoại giao và các nước láng giềng tốt; cần xây dựng quân đội có tiềm năng về quân sự; cần có tiềm lực về kinh tế; cần có sự nhất trí cao giữa người đứng đầu và muôn dân… Từ đó có thể thấy rằng, mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài quốc gia phải có sự liên kết, hòa hợp với nhau, trong đó phải lấy dân làm gốc, dựa vào sức dân mới thành được, từ việc xây dựng quân đội tới kinh tế đất nước đều cần có sự góp sức của nhân dân mới thành công.

 

Câu 2: Tâm trạng tác giả trước hoàn cảnh đất nước được thể hiện như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

Tâm trạng tác giả trước hoàn cảnh đất nước được thể hiện một cách kín đáo qua lời thơ đầy ý nghĩa triết lí sâu sắc. Tác giả mặc dù là một thiền sư đã về chốn thanh tịnh tu hành nhưng không quên dõi theo hoàn cảnh dân chúng, nắm được tình hình đất nước và thấu hiểu cách trị nước lâu bền. Chính vì thế, ông muốn đem hiểu biết của mình về tư tưởng trị quốc tiến bộ mà bày tỏ với nhà vua (người đứng đầu đất nước). Từ đó, ông muốn nhắn nhủ cho vua quan biết cách làm thế nào để giữ cho đất nước yên bình, vui vẻ, dân được an cư lạc nghiệp. Mặc dù đã thoát tục, đã không màng thế sự nhưng thiền sư vẫn không quên góp sức mình bảo vệ cho nền hòa bình của đất nước và góp phần xây dựng đời sống yên bình, tốt đẹp cho nhân dân.

Câu 3: Anh (chị) hiểu thế nào là “vô vi”? Vì sao tác giả khẳng định: “Vô vi trên điện các – Chốn chốn dứt đao binh” ?

Gợi ý trả lời:

–  Quan niệm “vô vi” ở đây là theo triết lí của nhà Phật, có nghĩa là từ bi bác ái, trị dân phải hướng tới đời sống của nhân dân, vì dân mà thi hành các chính sách an dân.

 

–  Câu thơ hoàn chỉnh là: “Vô vi trên điện các”. “Điện các” là từ chỉ nơi thiết triều của vua và quan bàn việc trị quốc. Chính vì vậy, từ này cũng được dùng để chỉ triều đình, chỉ nhà vua. Cả câu thơ nên hiểu với ý là vua quan muốn giữ yên vận nước và để vận nước phát triển thịnh vượng nhà vua phải “vô vi”, phải làm những gì thuận với tự nhiên, thuận theo lòng ngưòi, không nên vì lợi ích cá nhân mà quên mất mục đích của việc trị quốc là hướng tới cuộc sống an yên cho dân chúng. Theo quan niệm của đạo Phật, làm cho mọi chúng sinh được yên vui, xoá bỏ mọi khổ đau của họ mới là tư tưởng lo cho dân, tư tưởng trị quốc tích cực thực sự.

–  Nếu làm được điều mà thiền sư nói, nhà vua có được các chính sách tốt cho dân thì tất yếu sẽ được nhân dân ủng hộ, tạo nên cuộc sống thanh bình của dân chúng, chấm dứt mọi suy nghĩ tiêu cực muốn chống đối triều đình trong dân gian. Câu thơ: “Chốn chốn dứt đao binh” có nghĩa là mọi nơi trên đât nước đều không có cảnh chém giết nữa, không còn chiến tranh, đời sống nhân dân ổn định thì đất nước sẽ thanh bình. Không có chiến tranh thì vận nước ắt hưng thịnh, ngôi vua cũng nhờ thế mà được vững bền.

 

Câu 4: Hai câu thơ cuối phản ánh truyền thống tốt đẹp gì của dân tộc Việt Nam ?

Gợi ý trả lời:

–  Hai câu cuối bài thơ đã phản ánh truyền thống yêu nước nồng nàn và khao khát đầy tính nhân đạo là mong ước nền hoà bình thịnh trị cho nhân dân. Đó là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam đã lưu truyền từ đời này sang đời khác.

–  Đây là lời nhà sư trả lời vua Lê Đại Hành khi được vua hỏi về cách trị quốc. Bài thơ đã bộc lộ tư tưởng trị nước đúng đắn: lấy dân làm gốc và tô đậm tính chất triết lí nhân văn trong tư tưởng trị quốc của thiền sư.

Soạn bài: “Cáo tật thị chúng” (“Có bệnh, bảo mọi người” – Thiền sư Mãn Giác) – văn lớp 10

Soạn bài: “Cáo tật thị chúng” (“Có bệnh, bảo mọi người” – Thiền sư Mãn Giác) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1. Hai câu thơ đầu đã nói lên quy luật nào của tự nhiên ? Nếu đảo vị trí câu thơ thứ hai lên câu đầu thì ý thơ thay đổi khác nhau như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

–  Hai câu thơ đầu đã diễn tả quy luật biến đổi của thiên nhiên. Đó là quy luật từ khi con người được sinh ra đã nhận thấy. Quy luật tự nhiên ấy được biểu hiện qua các sự vật và hiện tượng thiên nhiên mà đại diện là hình ảnh cây cối có những biến đổi theo thời tiết, từ mùa này sang mùa khác. Thông thường, mùa xuân đến thì hoa nở và câu thơ đã tái hiện đúng theo quy luật thiên nhiên ấy: “Xuân tới trăm hoa nở”. Tuy nhiên, giữa hai câu thơ nói về hiện tượng hoa nở, hoa tàn thì câu thơ miêu tả cảnh hoa rụng lại được đặt lên trước và câu thơ miêu tả cảnh hoa nở lại đặt ở sau. Qua cách tái hiện khung cảnh thiên nhiên đó, nhà thơ muốn nói về sự luân hồi của sự sống trong thiên nhiên, từ mùa đông hoa rụng mới tới được mùa xuân hoa nở. Hoa tàn rồi hoa lại nở là điều dễ nhận thấy trong cuộc sống của con người hàng ngày quan sát thiên nhiên. Hình ảnh xuân và hoa mang đến ý nghĩa biểu trưng cho cái đẹp, sự ấm áp tràn đầy sức sống của thời tiết và cây cỏ, tuy nhiên cũng không tránh khỏi vòng luân hồi nở – tàn của tạo hóa.

–  Nếu có sự đảo ngược hai câu thơ thì ý thơ sẽ thay đổi, làm mất đi tính triết lí mà tác giả gửi gắm trong bài thơ. Chỉ có cách sắp xếp câu thơ như vậy mới hợp nhịp điệu bắt vần của thể thơ và đặc biệt diễn tả được hai quy luật sinh trưởng và quy luật tuần hoàn tất yếu trong tự nhiên.

 

Câu 2: Câu thơ 3 và 4 nói lên quy luật gì trong cuộc sống của con người ? Cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của tác giả qua hai câu thơ này.

Gợi ý trả lời:

–  Câu thơ thứ 3 và thứ tư đã diễn tả quy luật không tuần hoàn của đời người. Thời gian và sự việc đã qua đi, con người trải qua năm tháng cũng sẽ già đi và những gì đã xảy ra là không thể thay đổi được. Hình ảnh mái đầu bạc là hình ảnh tượng trưng cho tuổi già. Đó là biểu hiện cụ thể nhất cho sự biến đổi của con người trước sự ảnh hưởng của thời gian.

–  Hai câu thơ nhằm diễn tả tâm trạng của nhà thơ như nuối tiếc, xót xa bởi con người không có khả năng luân hồi sự sống như cây cối và cuộc đời con người sẽ đi về phía huỷ diệt, không thể cứu vãn. Cũng vì thế mà tác giả muốn đưa ra triết lí nhân sinh sâu sắc rằng con người phải sống cho đáng với thời gian vốn có của mình, phải suy nghĩ chín chắn và hành động một cách cẩn trọng, tránh những hối tiếc về sau.

Câu 3. Hai câu cuối có phải là thơ tả thiên nhiên không? Câu đầu và câu cuối có mâu thuẫn không? Vì sao? Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng cành mai trong câu thơ cuối?

Gợi ý trả lời:

–  Hai câu thơ cuối không phải đơn thuần là những câu thơ miêu tả thiên nhiên vì xuân tàn, hoa rụng để báo hiệu sự chuyển giao sang một mùa mới là mùa hè. Tuy nhiên ở đây lại có hình ảnh cành hoa mai xuất hiện. Hoa mai là loài hoa chỉ nở vào cuối đông, đầu xuân, được dùng làm một trong các loài hoa tượng trưng cho mùa xuân nên có thể hiểu rằng, câu thơ không phải là đơn thuần miêu tả thiên nhiên.

 

–  Hai câu thơ đầu bài và cuối bài có sự mâu thuẫn với nhau vì khung cảnh mùa xuân đã qua đi: “Xuân qua hoa rụng hết” vậy mà sau đó, nhà thơ vẫn thấy cảnh “Đêm qua sân trước một cành mai”. Xuân đã qua đi, hoa cũng tàn hết nhưng vẫn còn sót lại một cành mai thì có sự mâu thuẫn rất kì lạ.

–  Hình tượng cành mai đem đến cho người đọc nhiều cảm nhận và suy nghĩ về triết lí nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm trong bài thơ. Thứ nhật, cành mai xuất hiện đã phủ nhận cái quy luật vận động và biến hóa của tự nhiên ở bốn câu thơ đầu. Dù cho xuân sắp đi qua, muôn loài hoa đã lìa cành nhưng vẫn còn cành mai nở hoa trong đêm. Thứ hai, hình ảnh cành mai còn mang ý nghĩa tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của vạn vật và con người. Nó thể hiện niềm tin vào con người vượt lên tất cả sự sống, chết, thịnh, suy. Đó là quy luật của sự bất biến. Có điều phải hiểu đây là sự bất biến về tư tưởng, tình cảm, ý chí (bất biến bên trong) chứ không phải là sự bất biến về hình thức con ngưòi. Cành mai là sự biểu hiện tính bất biến trong tinh thần nhà thơ.

–  Hơn nữa, hình ảnh cành mai còn là hình tượng nghệ thuật cao đẹp, tượng trưng cho cốt cách thanh cao, tâm hồn đáng quý. Đây không phải cái đẹp của bức tranh tứ bình: tùng, trúc, cúc, mai thường được dùng để diễn tả sự thanh cao, quý phái mà là cái đẹp thực tại của tinh thần lạc quan, mạnh mẽ và kiên định trước những biến đổi của trời đất và thời cuộc. Điều này giúp chúng ta hiểu thêm con ngưòi thời Lý và quan niệm của con người trong thời kì Phật giáo thịnh đạt. Dù đã tu hành nhưng các thiền sư không quay lưng lại với cuộc đời mà vẫn đầy bản lĩnh, đầy ý chí tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, giúp đỡ nhân dân.

 

Câu 4: Anh (chi) hãy làm sáng tỏ lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả.

Gợi ý trả lời:

Lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả được thể hiện rõ nét trong đoạn cuối bài thơ. Từ ý nghĩa của việc sắp xếp trật tự trong hai câu đầu là thể hiện cái nhìn triết lí sâu sắc về cuộc đời, về thiên nhiên tới việc đưa ra hình ảnh cành mai đã giúp tạo nên bài thơ có ý nghĩa tượng trưng cho niềm tin, hi vọng, lòng yêu đời và yêu người của nhà thơ. Các câu thơ được sắp xếp một cách đặc biệt nhằm thể hiện triết lí nhân sinh sâu sắc mà thiền sư chiêm nghiệm được trong quá trình tu hành của mình. Qua đó ta cũng thấy được tài năng và phẩm chất của những thiền sư đắc đạo trong thời trung đại.

Soạn bài: “Quy hứng” (“Hứng trở về” – Nguyễn Trung Ngạn) – văn lớp 10

Soạn bài: “Quy hứng” (“Hứng trở về” – Nguyễn Trung Ngạn) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1:  Nỗi nhớ quê hương ở hai câu thơ đầu có gì đặc sắc ?

Gợi ý trả lời:

–  Trong hai câu thơ đầu bài thơ có nhiều điểm đặc sắc là:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê”

Nỗi nhớ được diễn tả qua những hình ảnh rất cụ thể, chân thực và dân dã, làm nổi lên gốc gác đồng quê với những nghề nghiệp đặc trưng như nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề trồng lúa và cuộc sống sinh hoạt đạm bạc của người dân. Hình ảnh món ăn quen thuộc của người quê được miêu tả rất tự nhiên bằng cách kết hợp với từ cảm thán tạo thành cụm từ: “cua béo ghê”. Những cảnh đời thường từ lao động tới sinh hoạt đều hiện lên rõ nét và chứa đựng trong đó là cảm xúc dạt dào của nhà thơ. Cái cốt lõi của cảm xúc ấy là lòng yêu quê hương xứ sở. Cách nói mộc mạc của nhà thơ dễ đi vào lòng người, dễ làm rung động lòng người hơn.

–  Tình yêu quê hương được thể hiện không phải bằng cách thể hiện cảm xúc thái quá với ngôn ngữ sáo rỗng mà bằng những hình ảnh gợi nhớ vô cùng thiết tha, gắn bó và chân thực. Đó là hình ảnh giản dị của luống dâu tằm, là hương thơm thoang thoảng của đồng lúa chín, là con cua con cá bắt được trên đồng, là mùi vị dẻo thơm ngọt ngào trong bữa cơm quê.

 

Câu 2: Hãy làm rõ những nét riêng của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bài thơ qua những hình tượng thơ độc đáo.

Gợi ý trả lời:

–  Những nét riêng của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bài thơ qua những hình tượng thơ độc đáo được bắt nguồn không chỉ từ cảm xúc cá nhân mà còn xuất phát từ nhận thức, từ lí trí của nhà thơ.

–  Thi nhân hiểu được chân lí rằng: dẫu nơi quê nhà còn nghèo khó thì vẫn là quê hương của mình, vẫn gần gũi, thân thuộc và đáng quý hơn chốn danh vọng ở nơi phồn hoa đô hội. Tiếng gọi trở về tha thiết, khắc khoải trong lòng kẻ xa quê đã được thể hiện qua những hình ảnh hoài niệm chân thực và sống động. Rõ ràng lòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về dân tộc là cảm xúc chủ đạo của bài thơ này.

–  Bài thơ “Quy hứng” đã giúp người đọc nhận ra được một chân lí: không gì bằng quê hương xứ sở của mình là nơi sinh ra ta, nuôi dưỡng và giúp ta trưởng thành. Từ đó mà răn dạy mọi người nên thêm yêu, thêm quý nơi chôn rau cắt rốn, quê cha đất tổ của mình.

Soạn bài: “Thu hứng” (“Cảm hứng mùa thu” – Đỗ Phủ) – văn lớp 10

Soạn bài: “Thu hứng” (“Cảm hứng mùa thu” – Đỗ Phủ) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Dựa vào hiểu biết của mình, anh (chị) hãy xác định bố cục của bài thơ.

Gợi ý trả lời:

Bài thơ “Thu hứng” được viết theo thể thất ngôn bát cú nhưng khác với các bài Đường thi thông thường, bài thơ này có bố cục chia làm 2 phần là bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ còn lại:

–  Phần 1: Bốn câu thơ đầu

Ý chính: Đoạn thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên hiu hắt, đượm buồn và nhạt nhòa, mờ ảo trong làn sương khói mùa thu. Qua đó, nhà thơ muốn truyền tải tới người đọc cảm xúc tha thiết của tâm trạng buồn xa xót.

–  Phần 2: Bốn câu thơ còn lại

Ý chính: Đoạn thơ thể hiện nỗi buồn thương nhớ quê hương của nhân vật trữ tình.

Câu 2. Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn từ bn câu đầu đến bn câu sau. Vì sao có s thay đổi ấy?

Gợi ý trả lời:

–  Trong bài thơ, từ bốn câu thơ đầu đến bốn câu thơ sau có sự thay đổi tầm nhìn theo hướng từ cao xuống thấp, từ xa đến gần. Cách miêu tả không gian có sự thay đổi tầm nhìn như vậy tạo nên khung cảnh được nhìn từ bao quát tới chi tiết, từ toàn thể tới bộ phận như một bộ phim hoàn chỉnh về mùa thu.

–  Bốn câu thơ đầu là đoạn miêu tả bức tranh thiên nhiên với sự xuất hiện của các hình ảnh: sương, núi, gió thu, dòng sông và những đám mây in bóng dưới mặt đất. Cảm xúc trong đoạn thơ đầu được khơi gợi từ khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đẹp bình dị nhưng không rõ hình rõ nét. Phải tới bốn câu thơ sau thì sự xuất hiện các hình ảnh thiên nhiên như: khóm trúc, con thuyền… mới trở thành những hình ảnh được miêu tả có dụng ý, tạo thành một cái cớ để thi nhân thể hiện cảm xúc, nội tâm của mình là nỗi buồn thương nhớ luôn hướng về quê hương. Nỗi buồn ấy được bộc lộ rõ nét qua hình ảnh có sự xuất hiện của con người: “Tiếng chày đập áo”. Nhớ về quê hương còn là nhớ về con người và cuộc sống lao động, sinh hoạt chốn nông thôn.

 

–  Sự thay đổi về tầm nhìn trong bài thơ còn là dụng ý của tác giả trong việc thể hiện cảm xúc hướng theo sự vận động từ cảnh thiên nhiên tới cảnh con người, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, từ “cảnh” đến “tình”. Bài thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa thu hiu hắt, nhạt nhòa trong sương khói mùa thu và sự hiện diện của một tâm trạng trữ tình đượm nỗi buồn xót xa. Đồng thời, với sự di chuyển tầm nhìn như vậy, tác giả đã diễn tả nỗi buồn thương nhớ quê hương vừa bao la, vừa sâu sắc. Chính cách bố cục và dựng cảnh như vậy đã làm cho nghệ thuật Đường thi trong bài thơ được biểu hiện rõ nét hơn, đặc biệt là qua kết cấu chặt chẽ, hình ảnh đặc trưng, ngôn từ nhiểu tầng nghĩa, giọng điệu thơ phù hợp tâm trạng.

Câu 3: Anh (chị) hãy xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau, mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề “Thu hứng”.

Gợi ý trả lời:

–  Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau là mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh vật thiên nhiên và tâm trạng con người. Qua những hình ảnh miêu tả khung cảnh  thiên nhiên và tâm trạng nhung nhớ của nhà thơ, mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” được khơi gợi hoàn toàn phù hợp với tên của bài thơ: “Thu hứng”, nghĩa là cảm hứng xuất phát từ cảnh mùa thu. Mùa thu là mùa của lá vàng rụng, chiều thu buồn gợn mây, là mùa khơi dậy nỗi niềm nhớ mong da diết của nhiều thi nhân. Vì vậy, mùa thu trong bài thơ không chỉ là khung cảnh được miêu tả thông thường mà còn là yếu tố gợi hứng, gợi lên những cảm xúc để từ đó, nhà thơ có niềm nhớ nhung da diết hướng về quê hương, kín đáo gửi gắm nỗi thương nhớ quê hương vời vợi của mình khi ở nơi đất khách quê người trong thời loạn lạc. Sự vận động từ “cảnh” đến “tình” hoàn toàn hợp lí nhưng vẫn hết sức bất ngờ bởi sự xuất hiện của các hình ảnh có mối liên kết chặt chẽ nhưng cũng không dễ đoán, hoàn toàn thuận theo cảm hứng của thi nhân.

 

–  Trong toàn bài thơ và mỗi phần của bài có tính chất nhất quán được thể hiện ở mối quan hệ giữa toàn bài thơ và tiêu đề “Thu hứng”. Bên cạnh đó, mối quan hệ này còn được thể hiện ở logic giữa mỗi câu thơ, mỗi ý thơ với nhau. Khung cảnh hiện lên mờ ảo, thơ mộng và góp phần khiến cho trong mỗi câu thơ của Đỗ Phủ đều có cảm xúc và đậm chất thu:

+  Câu thơ thứ nhất: Cảm xúc và chất thu hiện diện ở hình ảnh sương thu và rừng phong lá đỏ, một không gian rộng lớn và huyền ảo.

+  Câu thơ thứ 2: Cảm xúc và chất thu được thể hiện trong hình ảnh “hơi thu” chính là cách miêu tả độc đáo gió thu hiu hắt.

+  Câu thơ thứ 3 và thứ 4: Cảm xúc và chất thu được thể hiện qua vị trí của Vu Sơn, Vu Giáp là các vùng thuộc tỉnh Tứ Xuyên, xen vào đó là hình ảnh sông Trường Giang hẹp lại chảy xiết, hai bên bờ vách thì dựng đứng. Khung cảnh mùa thu trở nên âm u mù mịt.

+  Câu thơ thứ 5: Cảm xúc và chất thu được thể hiện qua hình ảnh khóm cúc nở, một loài hoa đặc trưng cho mùa thu.

+  Câu thơ thứ 6: Cảm xúc và chất thu được thể hiện qua hồi tưởng của tác giả về mùa thu năm ấy, khi gia đình Đỗ Phủ phải chạy loạn, rời bỏ quê hương.

 

+  Câu thơ thứ 7: Cảm xúc và chất thu được thể hiện trong cảm giác của mùa thu se lạnh, giục giã mọi người rủ nhau may áo rét, khơi gợi về hình ảnh con người chốn quê hương.

+  Câu thơ thứ 8: Cảm xúc và chất thu được thể hiện qua việc miêu tả Thành Bạch Đế Cao thuộc tỉnh Tứ Xuyên với đặc trưng là mùa thu thường có mây bao phủ. Trong khung cảnh đó, nhân vật trữ tình dường như cảm nhận thấy rõ rệt hơn tiếng chày nện vào vải để may áo rét.

Cảm nghĩ về hình tượng người phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai (Lớp 10)

Cảm nghĩ về hình tượng người phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai (Lớp 10)

Dàn ý

I. Mở bài

– Trong kho tàng thơ ca nước ta, có một khối lượng ca dao khổng lồ

– Từ lâu hình tượng người phụ nữ đã trở thành một đề tài quen thuộc trong ca dao

– Tiêu biểu là trong bài Khăn thương nhớ ai

II. Thân bài

  1. Tâm trạng người phụ nữ

– Tâm trạng nhớ thương người yêu, bồi hồi, lo lắng

– Được thể hiện qua những biểu tượng

* Khăn

+ Hình ảnh chiếc khăn được nhắc tới đầu tiên ở 6 dòng đầu

+ Là vật trao duyên, làm cô gái gợi nhớ tới người yêu

+ Đằng sau hình ảnh chiếc khăn là hình bóng và nỗi niềm thương nhớ của cô gái

*Cái đèn

+ Là tín hiệu của thời gian

+ Ngọn đèn- nỗi nhớ: Chính là hình ảnh cô gái nhớ người yêu ngày đêm không ngủ được

*Đôi mắt

+  Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, là hình ảnh hoán dụ chỉ tâm trạng suy tư, nỗi nhớ thương vẫn nặng trĩu trong lòng

– Cô gái nhớ thương người yêu nhưng vẫn lo cho số phận của mình, lo cho duyên số lứa đôi

  1. Cảm nhận chung về hình tượng người phụ nữ qua bài ca dao

– Người con gái nhớ thương người yêu và lo lắng cho tình yêu lứa đôi

– Tình yêu của cô gái vô cùng sâu sắc nhưng lại gặp nhiều trắc trở

 

– Hình ảnh cô gái cũng chính là đại diện cho thân phận người phụ nữ xưa không thể tự quyết định được số phận của mình

III. Kết bài

Bài ca dao là một trong những bài ca dao than thân hay nhất nói về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ

Trình bày về các hủ tục tập quán không tốt trong ngày lễ tết ở Việt Nam (lớp 10)

Trình bày về các hủ tục tập quán không tốt trong ngày lễ tết ở Việt Nam (lớp 10)

Dàn ý

I. Mở bài

– Tết là một truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc

– Bên cạnh đó còn nhiều hủ tục không tốt

II. Thân bài

* Hủ tục tích trữ đồ ăn và mua sắm đồ dự trữ trong mấy ngày tết

– Những ngày bình thường có thể không mua sắm nhiều, nhưng ba ngày tết người dân thường mua sắm rất nhiều đồ

– Gây lãng phí

– Nhiều nhà vay nợ chỉ để mua sắm cho tết được đầy đủ

* Lì xì đầu năm

Lì xì đầu năm để lấy may nhưng nhiều người lợi dụng điều này để kiếm tiền

* Mua nhiều vàng mã

– Đốt vàng mã để tưởng nhớ tổ tiên là tốt

– Tuy nhiên người dân thường mua quá nhiều, gây tốn kém, ô nhiễm môi trường

* Mọi người quan niệm tết là ngày để nghỉ ngơi, ăn chơi

– Nhiều tệ nạn bài bạc diễn ra

– Rượu chè nhiều gây ra nhiều xô xát, tai nạn

III. Kết bài

–   Tết là những ngày mọi người có thể sum họp đoàn tụ, cần lược bỏ những hủ tục không tốt

–   Cần nhận rõ đâu là nét đẹp truyền thống đâu là hủ tục để có cái nhìn tốt đẹp nhất, để tết mang đúng giá trị truyền thống của nó

 

Soạn bài: Thái sư Trần Thủ Độ – văn lớp 10

Soạn bài: Thái sư Trần Thủ Độ – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Nêu những tình tiết liên quan đến Trần Thủ Độ. Mỗi tình tiết đã bộc lộ một khía cạnh nào về tính cách của ông ? Từ đó, anh (chị) có nhận xét gì vnhân cách của Trần Thủ Độ ?

Gợi ý trả lời:

–  Trong văn bản có nhiều tình tiết liên quan đến Trần Thủ Độ. Mỗi tình tiết đã bộc lộ một khía cạnh khác nhau về tính cách của ông. Các chi tiết sau đây đã làm nổi bật bản lĩnh và nhân cách vị thái sư đầu triều, thẳng thắn, độ lượng, nghiêm minh và đặc biệt là chí công vô tư. Đó là một phẩm chất đáng quý và ông xứng đáng là chỗ dựa của đất nước, là người nhân dân đặt niềm tin:

+  Thứ nhất là, đối với người hoặc mình, ông không ứng xử theo cách cư xử tầm thường, không phủ nhận lỗi lầm của bản thân mà còn thừa nhận lời nói chính xác của người khác: “Đúng như lời người ấy nói” và lấy tiền lụa thưởng cho anh ta. Điều đó cho thấy ông là người có đức tính nghiêm khắc với bản thân và biết nhìn nhận vấn đề trong sự tiếp nhận ý kiến của người khác, không làm việc một cách chủ quan, áp đặt. Việc làm đó của ông đem lại sự khích lệ lớn cho người cấp dưới và đề cao đức tính trung thực, dũng cảm, dám sai dám sửa và dám chỉ ra sai lầm của người khác dù người đó là người trên quyền của mình.

 

+  Thứ hai là, đối với người lính canh giữ thềm cấm, ông không bênh vợ và bắt tội người lính mà trước hết là tìm hiểu rõ sự việc. Khi biết rõ sự việc, ông có thái độ khích lệ người lính vì người lính đã biết giữ đúng quy tắc, làm theo lệnh mà cấp trên đề ra và giữ nghiêm phép nước. Từ cách xử trí công việc như vậy, ta có thể thấy ông là vị quan chí công vô tư, tôn trọng luật lệ, không thiên vị người thân, lại biết làm sáng tỏ sự việc trước khi quyết định để tránh khỏi sai lầm.

+  Thứ ba là, đối với việc công, khi được họ hàng nhờ cậy xin chức tước, ông không những từ chối mà còn dạy cho họ một bài học. Ông đưa ra một thử thách rằng: “Muốn làm chức quan ấy phải chịu bị chặt một ngón chân để phân biệt với các người khác”. Những kẻ tới nhờ vả vì thế mà sợ hãi không dám dựa dẫm vào ông nữa. Ông là người biết giữ gìn sự công bằng trong xã hội và tuân thủ theo đúng luật lệ quốc gia, bài trừ tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền, dựa dẫm, ỷ lại vào người thân thích.

+  Thứ tư là, đối với người trong gia đình, ông là người có thái độ chống lại thói “gia đình trị” rất rõ ràng. Khi vua phong chức cho An Quốc, anh của Trần Thủ Độ, ông đã thẳng thắn trình bày quan điểm của mình là không phụ thuộc vào mối quan hệ gia đình mà đòi hỏi người được phong chức phải có cốt cách, tài năng: “Nên căn cứ vào phẩm chất, năng lực của mỗi người mà phong chức tước, khônơ nên hậu đãi cả hai anh em, mà làm rối việc triều đình”. Rõ ràng, ta có thể thấy rằng Trần Thủ Độ là người không tư lợi, luôn đặt việc công lên trên lợi ích gia tộc.

 

Câu 2: Nêu những nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và khắc hoạ nhân vật của nhà viết sử (chú ý những xung đột kịch tính, những bước ngoặt bất ngờ, thú vị trong các tình tiết làm nổi bật tính cách nhân vật).

Gợi ý trả lời:

Những nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và khắc hoạ nhân vật của nhà viết sử là:

–  Nghệ thuật xây dựng tình huống giàu kịch tính, lựa chọn chi tiết đắt giá.

–  Nghệ thuật tạo dựng xung đột truyện. Mỗi câu chuyện đều có những xung đột và mâu thuẫn đem cốt truyện đi đến cao trào và được giải quyết một cách bất ngờ.

–  Nghệ thuật sử dụng ngôn từ theo lối viết sử rất kiệm lời, không miêu tả chi tiết hay đi vào phân tích tâm lí nhưng hình tượng nhân vật vẫn hiện lên sâu sắc.

Soạn bài: “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (“Tản Viên từ phán sự lục” – Trích “Truyền kì mạn lục” – Nguyễn Dữ) – văn lớp 10

Soạn bài: “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (“Tản Viên từ phán sự lục” – Trích “Truyền kì mạn lục” – Nguyễn Dữ) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Theo anh (chị), việc làm của nhân vật Ngô Tử Văn có ý nghĩa gì ?

  1. Thể hiện quan điểm và thái độ của người trí thức muốn đả phá sự mê tín thần linh của quần chúng bình dân.
  2. Thể hiện sự khảng khái, chính trực và dũng cảm muốn vì dân trừ hại.
  3. Thể hiện tính hiếu thắng của người trẻ tuổi.
  4. Thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ tên giặc xâm lược hung bạo, bảo vệ Thổ thần nước Việt, người từng có công giúp Lý Nam Đế chống ngoại xâm.
  5. Ý kiến khác.

Giải thích nguyên nhân sự lựa chọn của anh (chị).

Gợi ý trả lời:

–  Về ý kiến thứ nhất (ý a): ý kiến này hoàn toàn không chính xác bởi niềm tin của nhân dân vào thần linh ở đây không mang tính chất mê tín mà mang tính chất ngợi ca, trân trọng những việc làm của Ngô Tử Văn.

–  Về ý kiến thứ hai (ý b): ý kiến này là ý kiến đúng vì việc làm của Ngô Tử Văn là đốt đền, vạch tội hồn tên tướng giặc trước Diêm Vương. Hành động của Tử Văn xuất hiện từ ý thức cá nhân rất rõ ràng: “’Thấy sự gian tà thì khônq chịu được” chứ không phải việc làm động chạm tới sự linh thiêng của thần linh. Qua lời giới thiệu về nhân vật và nguyên nhân đốt đền của chàng, ta thấy Tử Văn là con người “khảng khái”, “nóng nảy” và “cương trực”. Tử Văn là người coi trọng công lí, bất bình trước cái xấu, cái ác lộng hành, làm mưa làm gió.

–  Về ý kiến thứ ba (ý c): ý kiến này hoàn toàn không chính xác bởi Ngô Tử Văn hành động như vậy là xuất phát từ tính cách khảng khái và cương trực của chàng. Đây là hành động có suy nghĩ và mục đích chính đáng chứ không phải là hành động nông nổi, hiếu thắng của tuổi trẻ.

–  Về ý kiến thứ tư (ý d): ý kiến này là ý kiến chính xác bởi cuộc đấu tranh giữa Ngô Tử Văn với hồn tên tướng giặc họ Thôi cũng chính là cuộc đấu tranh giữa hai thế lực: công lí, chính nghĩa và phi nghĩa, gian tà. Cuộc đấu tranh giữa hai thế lực này có ý nghĩa hiện thực cụ thể và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, một mặt lên án giặc ngoại xâm, tố cáo sự cấu kết của thần quyền, mặt khác phản ánh hiện thực xã hội với cái nhìn tin tưởng vào chính nghĩa thắng gian tà.

–  Về ý kiến thứ năm (ý e): ý kiến này là câu trả lời tốt nhất ở đây trong tất cả các ý kiến trên. Ý kiến khác ở đây cần bao gồm cả ý kiến thứ hai (ý b) và ý kiến thứ tư (ý d) và ngoài ra, ta có thể đưa ra thêm những ý kiến cá nhân mang tính chất phát hiện đầy sáng tạo. Hành động của Ngô Tử Văn vừa thể hiện sự khảng khái, chính trực và dũng cảm vì dân trừ hại (ý b), vừa thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ hồn tên giặc xâm lược hung bạo, bảo vệ Thổ thần nước Việt (ý d). Câu trả lời ở ý kiến thứ nhất (ý a) chỉ đúng một phần rất nhỏ vì hành động Ngô Tử Văn có sự đả phá nhưng là đả phá đối với ngu tín vào những thần ác, thần bất chính chứ khóng đả phá tập tục thờ cúng thần linh nói chung. Câu trả lời ở ý kiến thứ ba (ý c) là hoàn toàn không chính xác vì Ngô Tử Văn không đốt đền một cách vô cớ, hơn nữa trước khi đốt, Tử Văn “tắm gội sạch sẽ, khấn trời” rồi mới “châm lửa đốt đền”. Hành động đó của Tử Văn chứng tỏ chàng đã suy xét rất kĩ lưỡng trước khi hành động chứ không phải là hành động nông nổi của người tuổi trẻ hiếu thắng.

 

Câu 2: Theo anh (chị), chi tiết Diêm Vương xử kiện ở âm phủ thể hiện điều gì ?

  1. Thể hiện niềm tin của con người thời trung đại: bên cạnh cõi trần còn có một thế giới khác là âm phủ, nơi con người sau khi chết sẽ phải đến để nhận sự phán xét, thưởng phạt về những việc làm của mình khi còn sống.
  2. Thể hiện khát vọng công lí chưa thực hiện được trong cuộc sống trần thế của người xưa.
  3. Là chi tiết cần thiết nhằm đẩy kịch tính của truyện đến cao trào để nhân vật chính – Ngô Tử Văn – có dịp bộc lộ bản lĩnh, khí phách của mình.
  4. Có ý nghĩa khuyên răn, giáo dục con người nên sống và hành động thế nào cho đúng đắn, hợp lẽ phải, tránh làm điều ác.
  5. Ý kiến khác

Giải thích lí do sự lựa chọn của anh (chị).

Gợi ý trả lời:

Trong các ý kiến trên, cả 4 ý kiến a, b, c, d đều đúng và góp phần đánh giá một cách chính xác, đầy đủ chi tiết Diêm Vương xử kiện ở âm phủ. Chính vì thế, ý kiến đúng và đủ nhất ở đây là ý kiến thứ 5 (ý e) bởi khi chọn ý kiến này, ta có thể đồng tình với cả 4 ý kiến trên và có sự mở rộng thêm ý kiến cá nhân để câu trả lời sáng tạo hơn, thể hiện được nhiều cách hiểu hơn. Việc xử kiện ở âm phủ là do hồn tên tướng giặc Bách Hộ họ Thôi kiện Ngô Tử Văn đốt đền. Hồn tên tướng giặc đã giả mạo Thổ Thần, làm hại dân, qua mặt cả Diêm Vương. Sở dĩ Diêm Vương không hay biết là vì các vị thần ở những đền miếu lân cận ăn của đút nên bao che cho kẻ ác, vì các phán quan của Diêm Vương chưa làm hết trách nhiệm của mình, quan liêu, không theo sát thực tế. Qua chi tiết này, ta có thể thấy hành động của tên Bách Hộ họ Thôi là hành động “gậy ông đập lưng ông”, hại người nhưng thành ra lại hại mình. Chi tiết này xuất phát từ niềm tin của nhân dân vào cõi âm và sự phán xét công bằng sẽ được thực thi dù là ở thế giới nào. Chi tiết đã thể hiện khát vọng của người xưa về giấc mơ công lí chưa thực hiện được nơi trẩn thế còn đầy rẫy bất công và tội ác. Con người thời trung đại còn tin rằng bên cạnh cõi trần còn có một thế giới khác là âm phủ, nơi con người sau khi chết sẽ phải đến để nhận sự phán xét, thưởng phạt về những việc làm của mình khi còn sống. Cũng nhờ sự xuất hiện của chi tiết Diêm Vương xử kiện ở âm phủ với vai trò là chi tiết vô cùng cần thiết nhằm đẩy kịch tính của truyện đến cao trào mà nhân vật có cơ hội để bộc lộ rõ tính cách, phẩm chất đồng thời khắc sâu chủ đề của truyện. Bài học trong câu chuyện có ý nghĩa khuyên răn, giáo dục con người nên sống và hành động thế nào cho đúng đắn, hợp lẽ phải, tránh làm điểu ác để không bị trừng phạt sau này, kể cả khi đã chết.

 

Câu 3: Chi tiết Ngô Tử Văn được nhận chức phán sự ở đền Tản Viên có ý nghĩa gì ?

Gợi ý trả lời:

Chức phán sự là một chức quan được đề ra để thực hiện nhiệm vụ xem xét về các vụ kiện tụng, giúp cho con người có được sự phán xử công bằng. Đây là chức quan đại diện cho sự thực thi công lí. Sở dĩ nhân vật Ngô Tử Văn được Thổ thần tiến cử nhận chức này vì chàng đã giúp đỡ Thổ thần đòi lại công lí. Ngoài ra, chàng có đầy đủ phẩm chất của một người làm việc cho chính nghĩa, đó là phẩm chất dũng cảm dám bảo vệ cho công lí, đứng về phía lẽ phải và chính nghĩa ngay cả khi cái chết đe doạ. Bên cạnh đó, việc nhận chức phán sự đền Tản Viên của Ngô Tử Văn chính là một hình thức thưởng công xứng đáng có ý nghĩa tuyên dương cho đời sau noi theo, khích lệ mọi người dũng cảm đấu tranh chống lại cái ác, bảo vệ công lí. Hình ảnh Ngô Tử Vãn oai phong lẫm liệt xuất hiện ở cuối chuyện đã nói lên niềm tin của nhân dân vào sự chiến thắng của chính nghĩa và sự báo đáp đối với người thiện, người thực thi công lí.

Câu 4: Phân tích nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của Nguyễn Dữ.

Gợi ý trả lời:

Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Dữ đặc sắc và hấp dẫn ở các điểm sau:

 

–  Nghệ thuật xây dựng các yếu tố kì ảo tưởng tượng xen lẫn giữa chuyện người với chuyện thần, chuyện ma, giữa thế giới thực với thế giới ảo, giữa trần thế và địa ngục… làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn. Sử dụng các chi tiết kì ảo là hình thức đặc biệt để chuyên chở nội dung và cảm hứng hiện thực trong tác phẩm này.

–  Nghệ thuật kể chuyện tạo thành nhiều đoạn theo trình tự thời gian đầy chi tiết li kì biến hoá mà vẫn tự nhiên, logic, có thắt nút – mở nút.

–  Nghệ thuật dẫn dắt chuyện vô cùng khéo léo, mở ra bằng một sự việc bất ngờ rồi dẫn dắt dần tới đỉnh điểm tạo nên tình huống kịch tính và giải quyết tình huống một cách hợp lí đầy thoả đáng. Nhờ cách dẫn dắt truyện như vậy mà tác phẩm đã tạo cảm giác hồi hộp khi người đọc theo dõi diễn biến của các sự việc. Đến khi tình huống cuối cùng được mở nút thì người đọc dường như cũng thở phào nhẹ nhõm và suy ngẫm thêm về chủ đề tư tưởng của truyện. Qua đó, chủ đề tư tưởng của tác phẩm được làm cho nổi bật hơn, trở thành bài học sâu sắc hơn.

Câu 5: Nêu chủ đề của truyện.

Gợi ý trả lời:

Chủ đề của truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ là đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân qua hình tượng Ngô Tử Văn. Qua đó, ta có thể thấy được tình cảm của nhân dân dành cho một người trí thức yêu chính nghĩa, dũng cảm, cương trực. Truyện đã thể hiện những khát vọng thực thi công lí và niềm tin vào công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng.

Soạn bài: Hồi trống Cổ Thành (Trích “Tam quốc diễn nghĩa” – La Quán Trung) – văn lớp 10

Soạn bài: Hồi trống Cổ Thành (Trích “Tam quốc diễn nghĩa” – La Quán Trung) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Tại sao Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan Công ?

Gợi ý trả lời:

Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan Công vì:

–  Trương Phi là người anh hùng có tính cách cương trực, thẳng thắn, tuy nhiên lại rất nóng nảy. Dân gian có câu: “Nóng như Trương Phi” là để nhấn mạnh vào đặc trưng tính cách này của nhân vật. Đang lúc giận, câu nói của Quan Vũ: “Hiển đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào năm xưa ư?” khiến Trương Phi bừng bừng nổi giận bởi Trương Phi đặt tình cảm huynh đệ của 3 anh em lên trên tất cả mà nay Quan Vũ lại là người phản bội lại những lời thề khi kết nghĩa. Tráo lại, Quan Vũ muốn nhắc lại việc kết nghĩa vườn đào để Trương Phi bớt giận, không ngờ điều đó như đổ thêm dầu vào lửa, càng làm Trương Phi phẫn nộ bởi vì trong suy nghĩ của Trương Phi, Quan Vũ theo Tào Tháo là sự phản bội không thể được anh em tha thứ, đã phản bội còn rêu rao “nghĩa vườn đào” là hoàn toàn không xứng, là đáng hổ thẹn, đáng giết. Trương Phi, với tính cách của một võ tướng dũng mãnh, một đấng trượng phu, luôn là người cương trực, không chấp nhận sự quanh co, lắt léo và đề cao tính minh bạch, đen trắng rõ ràng nên muốn đích thân trừng trị người đã phản bội mình.

–  Nhưng quan trọng hơn cả, Trương Phi là người trọng nghĩa khí, quý tình anh em. Chính vì thế, hành động tấn công người anh em kết nghĩa vườn đào chẳng phải chỉ do hiểu nhầm đơn thuần, cũng không chỉ là biểu hiện của cá tính nóng nảy, mà còn bộc lộ một phẩm chất rất đáng quý của Trương Phi: đó là phẩm chất của đấng trượng phu, quân tử, hào hiệp, coi tình nghĩa là trên hết, căm ghét tận xương tuỷ hạng người bất trung bất nghĩa.

 

Câu 2: Vì sao đoạn trích lại có nhan đề là “Hồi trống cổ thành” ?

Gợi ý trả lời:

Đoạn trích lại có nhan đề là “Hồi trống cổ thành” mặc dù trong nguyên tác, hồi 28 có tiêu đề:

“Chém Sái Dương, anh em hoà giải

Hồi Cổ thành, tôi chúa đoàn viên”

–  Sở dĩ như vậy là bởi chữ “hồi” trong nhan đề đoạn trích do người biên soạn đặt là danh từ chỉ đơn vị có ý nghĩa tương đương với cụm từ hồi trống. Đây là hồi trống do Trương Phi gióng lên khi đánh nhau với Quan Công. Đây là một chi tiết có ý nghĩa nghệ thuật độc đáo.

–  Trước hết cũng là hồi trống trận như tất cả những hồi trống trận thông thường khác, nhưng có điều hồi trống trong tác phẩm có người đánh trống không phải thuộc quân bên này hay quân bên kia, không phân chia quân địch và phe ta. Hơn thế nữa, mục đích của hồi trống cũng không phải chỉ thúc giục những người tham gia giao chiến mà quan trọng hơn là thể hiện tâm trạng của người tham chiến.

–  Qua chi tiết hồi trống được gióng lên, ta có thể thấy hồi trống như trút hết tất cả tâm trạng đang chứa đựng đầy sự mâu thuẫn, sự xúc động và những căng thẳng đến tột cùng của Trương Phi trong vai trò một võ tướng, chủ tướng. Từ sau ngày 3 anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi thất trận, bị Tào Tháo đuổi giết thì đã bặt vô âm tín. Chính vì thế nên nỗi oán hận vì nghe tin thất thiệt về Quan Công, những hi vọng được gặp lại nhau, và những thất vọng vì hiểu nhầm về nhau đã dồn nén trong lòng Trương Phi. Tất cả những tâm trạng ấy như đã được dổn nén để bây giờ vang lên, bùng nổ ra trong hồi trống cổ thành. Vì vậy, ta như nghe thấy trong hồi trống ấy có cả tiếng khóc, tiếng cười, tiếng gầm thét đầy giận dữ và oán hờn của Trương Phi. Nó như một khúc ca ca ngợi tấm lòng trượng nghĩa, đề cao tình huynh đệ bất diệt giữa những người anh em kết nghĩa vườn đào, tình như thủ túc và chỉ có thể chứng minh bằng hành động, không thể chỉ bằng lời nói.

 

Câu 3: Có ý kiến cho rằng“nóng như Trương Phi” còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không phải chỉ là nóng nẩy do cá tính gàn dở. Anh (chị) có đồng ý không ? Vì sao ?

Gợi ý trả lời:

Có ý kiến cho rằng“nóng như Trương Phi” còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không phải chỉ là sự nóng nẩy do cá tính gàn dở. Ý kiến này cũng có điểm chính xác về bản tính Trương Phi có tính cách nóng nảy. Tuy nhiên, sự nóng nảy ấy, ngoài ý nghĩa cá tính riêng, còn có nhiều ý nghĩa khác thể hiện những tính cách đáng quý của Trương Phi:

–  Tính cách của một võ tướng: Mạnh mẽ, quyết liệt, thẳng thắn

–  Tính cách của một đấng trượng phu: cương trực, đường hoàng, hồn nhiên, trung thực, giàu tình cảm, trọng nghĩa khí

Câu 4: Tại sao nói: nếu không có chi tiết Trưong Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, mất hết ý nghĩa Tam Quốc ?

Gợi ý trả lời:

–  Nếu không có chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, mất hết ý nghĩa Tam Quốc bởi nếu thiếu chi tiết này thì hoàn cảnh này sẽ rơi vào hoàn cảnh của cuộc đoàn viên thông thường, không khơi gợi được không gian chiến trận hào hùng. Cũng trong hoàn cảnh đó, tính cách của các bậc anh hùng nhờ thế mà được bộc lộ rõ nét hơn, tô đậm hơn tình nghĩa huynh đệ thuỷ chung và ngợi ca tình nghĩa cao đẹp giữa vua – tôi, anh – em trong mọi thời đại.

 

–  Hơn thế nữa, hình tượng nhân vật Trương Phi được miêu tả gián tiếp qua hồi trống: Hồi trống cổ thành trở nên xúc động lòng người vì nó dồn hết tình cảm, tâm trạng của Trương Phi với biết bao tâm trạng, nỗi niềm hờn giận vì hiểu lầm, sự xót xa vì thất tán anh em, cùng tình nghĩa thuỷ chung thắm thiết của ba anh em kết nghĩa vườn đào.

Soạn bài: “Tào tháo uống rượu luận anh hùng” (Trích “Tam quốc diễn nghĩa” – La Quán Trung) – văn lớp 10

Soạn bài: “Tào tháo uống rượu luận anh hùng” (Trích “Tam quốc diễn nghĩa” – La Quán Trung) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Phân tích tâm trạng và tính cách của Lưu Bị khi phải nương nhờ Tào Tháo.

Gợi ý trả lời:

–  Qua trích đoạn trích “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng”, ta có thể thấy được tâm trạng cũng như tính cách của nhân vật Lưu Bị được khắc họa rõ nét. Qua các chi tiết trong đoạn này, nhân vật Lưu Bị hiện lên là một con người có chí lớn, tuy nhiên do hoàn cảnh bắt buộc nên ông phải phụ thuộc vào kẻ địch. Lúc đó lực lượng của Lưu Bị còn yếu, khi thời cơ chưa đến, chưa đủ lực lượng để khởi binh thì ông vẫn phải nương nhờ Tào Tháo. Tào Tháo là một con người nổi tiếng gian hùng, đa nghi, hắn ta không tin tưởng bất kì ai, lại chưa kể đến Tào Tháo cũng là một con người mưu lược toàn tài, túc trí đa mưu. Vì vậy nên, khi nương nhờ Tào Tháo, Lưu Bị có tâm trạng hết sức phức tạp và mọi hành động của Lưu Bị đều phải hết sức cẩn trọng, hành xử khéo léo để tránh sự việc bại lộ, ảnh hưởng tới sự nghiệp sau này. Trong tình cảnh đó, Lưu Bị có tâm trạng lo lắng, dè dặt trước những lần thử thách của Tào Tháo: Khi bị Tòa Tháo bất ngờ triệu tập, Lưu Bị cũng từng sợ “tái mặt”, trên bàn rượu, sự lo lắng, căng thẳng thể hiện ra ngay trong hành động đánh rơi chiếc đũa.

–  Nhưng cũng từ hoàn cảnh đặc biệt ấy mà Lưu Bị bộc lộ được những tính cách của mình: Khi vô tình đánh rơi chiếc đũa, nhờ sự khéo léo, bình tĩnh mà Lưu Bị đã xử lí được tình huống một cách hợp tình hợp lí, tránh được sự nghi ngờ của Tào Tháo. Qua trích đoạn này, ta có thể thấy được Lưu Bị là một con người trầm tĩnh, khôn ngoan, khéo léo và đầy bản lĩnh. Sống nương nhờ quân Tào nhưng Lưu Bị vẫn khéo léo che đậy được tâm trạng, những suy nghĩ, tình cảm thật của mình trước kẻ thù. Đây là những tính cách nên có của một anh hùng lí tưởng của nhân dân Trung Quốc, một vị vua anh minh lỗi lạc.

 

Câu 2: Qua cách đối xử của Tào Tháo với Lưu Bị và cách đánh giá những nhân vật anh hùng mà Lưu Bị đề xuất, anh (chị) hiểu gì về tính cách của nhân vật này ?

Gợi ý trả lời:

Qua cách đối xử của Tào Tháo với Lưu Bị và cách đánh giá những nhân vật anh hùng mà Lưu Bị đề xuất, tính cách của Tào Tháo đã được bộc lộ một cách rõ nét:

– Thứ nhất, tính cách được thể hiện rõ nét nhất của Tào Tháo là hắn không tin tưởng ai ngoài bản thân mình, đối với hắn thì ai cũng có thể có dã tâm không tốt đối với hắn. Bởi vậy mà khi Lưu Bị còn nương nhờ dưới trướng của hắn thì hắn đã nhiều lần thử lòng Lưu Bị, việc mời Lưu Bị đến tiệc rượu cũng là một trong những lần thử thách, thăm dò đó.

–  Thứ hai, Tào Tháo là một con người gian hùng của thời loạn, có tài có trí lại có sự đề phòng, cẩn trọng trong từng hành động nên mới có thể hợp nhất Tam Quốc.

–  Thứ ba, Tào Tháo còn thể hiện bản tính là con người kiêu căng tự phụ. Điều đó được thể hiện khi nghe Lưu Bị nói về những người anh hùng thì Tào Tháo đã ngang nhiên gạt hết những con người đó qua mà cho rằng họ chưa xứng đáng là anh hùng.

–  Thứ tư, Tào Tháo là một người có sự tự mãn rất lớn về bản thân, tự xếp mình vào hàng anh hùng, còn ngẫm ngầm ám chỉ bản thân còn xếp trên cả Lưu Bị. Dù là một kẻ gian hùng, đa nghi xảo trá lại kiêu căng, tự phụ nhưng lịch sử không thể phủ nhận được Tào Tháo là một con người thông minh, cẩn trọng trong hành động, có tư chất của một người lãnh đạo, tài trí song toàn, giỏi mưu lược, nhưng cũng do quá đa nghi nên mới có thất bại sau này.

 

Câu 3: Phân tích những điểm khác nhau giữa Lưu Bị và Tào Tháo.

Gợi ý trả lời:

Qua đoạn trích “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng”, hai nhân vật Lưu Bị và Tào Tháo hiện lên là hai con người với hai tính cách hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu như ta thấy những phẩm chất của người anh hùng lí tưởng trong Lưu Bị được tô đậm bao nhiêu thì ta lại thấy vẻ gian hùng, nguy hiểm xảo trá ở Tào Tháo được nhấn mạnh bấy nhiêu. Với việc xây dựng hai hình tượng đối lập, tác giả La Quán Trung đã để cho hai nhân vật này hỗ trợ làm nổi bật lên tính cách thực sự của mỗi người. Sự khác nhau trong tính cách của Tào Tháo và Lưu Bị có thể nhắc đến các điểm chính sau:

–  Tào Tháo:

+  Là một con người gian hùng của thời loạn

+  Tự phụ, ngạo mạn về tài năng của bản thân

+  Đa nghi, gian trá liên tiếp thử thách buộc Lưu Bị phải bộc lộ bản thân

+  Thông minh, bản lĩnh nhưng là một con người gian xảo, độc đoán, nguy hiểm.

–  Lưu Bị:

+  Là mẫu người anh hùng lí tưởng của nhân dân Trung Hoa, là hình dáng của một vị vua nhân đức.

+  Lo lắng, bất an vì quân của Lưu Bị đang ở thế hạ phong, bản thân Lưu Bị cũng đang phải sống nương nhờ dưới trướng của Tào Tháo.

+  Khéo léo che đậy tình cảm, con người thật sự của mình.

 

+  Là một con người nhân đức, mẫu hình lí tưởng mà người dân Trung Ho among muốn ở vị minh quân của mình.

Câu 4: Tại sao cách kể chuyện trong đoạn văn lại hấp dẫn người đọc ?

Gợi ý trả lời:

Trích đoạn “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” nói riêng và kiệt tác “Tam quốc diễn nghĩa” của tác giả la Quán Trung nói chung có sức hút đặc biệt với độc giả từ nhiều thế hệ xưa tới nay. Sở dĩ như vậy là bởi cách kể chuyện trong đoạn văn có sức hấp dẫn rất lớn đối với người đọc. Điều đó được thể hiện trong các nghệ thuật sau:

+  Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn

+  Nghệ thuật dẫn dắt truyện tài tình, làm chủ được cốt truyện, bám sát thực tế lịch sử.

+  Nghệ thuật xây dưng và tạo dựng được những tình huống căng thẳng, tạo nút thắt và rồi để cho nhân vật tự gỡ nút thắt một cách tài tình, xuất sắc.

+  Trong quá trình kể chuyện, tác giả la Quán Trung tuy trung thành với lịch sử nhưng cũng thể hiện thái độ yêu ghét, khen chê đối với các nhân vật một cách rõ nét. Đây không chỉ là quan điểm cá nhân mà có lẽ là quan điểm của nhiều người dân thời bấy giờ.

Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Phân tích diễn biến tâm trạng của người chinh phụ và nghệ thuật khắc hoạ tâm trạng của tác giả (Những dấu hiệu cho thấy sự cô đơn; ngôn ngữ của người chinh phụ và giá trị biểu cảm của nó; các yếu tố ngoại cảnh có tương quan với tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yếu tố đó…).

Gợi ý trả lời:

Với nghệ thuật khắc họa tâm trạng chân thực, sinh động, diễn biến tâm trạng của người chinh phụ đã hiện lên rõ nét.

– Qua hai khổ thơ đầu, hình ảnh người chinh phụ được khắc họa là một người lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc. Dấu hiệu cho thấy sự cô đơn của người chinh phụ được thể hiện trong: sự lẻ loi trong căn phòng vắng, sự lẻ loi cả khi bước ra ngoài, sự lẻ loi ban ngày và sự lẻ loi, cô độc hơn cả là trong cảnh đêm khuya thanh vắng.

–  Trong đoạn trích, người chinh phụ hiện lên không phải qua lời nói bộc lộ cảm xúc lộ liễu mà thông qua những hành động, cử chỉ chậm rãi. Tác giả đã miêu tả hình ảnh người chinh phụ với trạng thái không yên, hết đứng lại ngồi. Bằng các động từ mạnh và cách tạo dựng khung cảnh đìu hiu, cô quạnh, nhà thơ đã vẽ lên dáng vẻ của người chinh phụ đang bồn chồn, lo lắng dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuộn lên (thác) nhiều lần. Đặc tả sự cô đơn này, hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng được nhấn mạnh nhằm thể hiện cảnh sống lẻ loi, đơn chiếc của nàng. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn” và “bóng người”.

“Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

–  Hai khổ thơ: khổ ba và khổ bốn tiếp tục khắc hoạ diễn biến tâm trạng của người chinh phụ qua khung cảnh. Tác giả xếp hai cảnh lẻ loi: ban đêm được miêu tả với âm thanh: “Gà eo óc gáy  sương năm trống” và ban ngày lại được miêu tả với hình ảnh: “Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên cạnh nhau nhằm gợi cảnh lẻ loi và nỗi thất vọng triền miên, dằng dặc. Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh thời gian và không gian với tâm trạng: “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một câu thơ đặt nỗi niềm chờ đợi mong mỏi trong sự so sánh với chiều dài thời gian và một câu thơ đặt nỗi buồn nhớ trong sự so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ Iáy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như kéo dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng, lan tỏa khắp không gian, kéo dài theo thời gian.

 

–  Tâm trạng của người chinh phụ tiếp tục được đẩy lên cao hơn với sự cố gắng trong tuyệt vọng. Khổ thơ thứ tư diễn tả sự gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi. Những hành động cố gắng khơi gợi lại hơi ấm người thương và tìm thú vui cho mình như: gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm” đều thất bại, khiến cho nước mắt cứ đầm đìa. Động từ “gượng” được đặt trong sự lặp lại tạo cảm giác thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

–  Khi bàn về khổ thơ thứ năm và khổ thơ thứ sáu, Đặng Thai Mai đã nhận xét những vần thơ: “mênh mông vô tận như khối sầu tựa ngàn xưa”. Trong đoạn thơ này, tác giả đã đặt nhân vật trữ tình trong không gian có ý nghĩa phóng dụ “gió đông”, “non yên”, “đường lên bằng trời”. Tứ thơ được vượt thoát ra khỏi căn phòng nhỏ hẹp, vươn ra không gian bát ngát, “thăm thẳm”. Giá trị biểu cảm của đoạn thơ tập trung ở những từ láy “đằng đẵng”, “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha”. Qua những từ ngữ miêu tả đó, nỗi nhớ không còn vô hình mà trở nên có hình khối, có chiều dài, độ cao, độ sâu, có sự mỏi héo mòn, có vời vợi mênh mang, có lo lắng day dứt và có chà xát, cắt cứa đến đau đớn. Đoạn thơ diễn tả trực tiếp nội tâm nhân vật trữ tình. Cách điệp vần, điệp liên hoàn cộng hưởng với không gian và tâm trạng tạo âm hưởng lan toả triền miên, không dứt, nỗi buồn như ôm trùm cả vũ trụ khôn cùng… Hai câu cuối đoạn miêu tả cảnh cành cây ướt đẫm sương đêm, tiếng côn trùng rên rỉ vang lên từ lòng đất. Người chinh phụ lọt sâu vào bóng đêm dày đặc. Cảnh sương tuyết gió mưa buốt giá đồng hành và đồng cảm với nỗi buốt giá lạnh lẽo của lòng người.

Câu 2: Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ ?

Gợi ý trả lời:

Trong đoạn trích, nỗi đau khổ tột cùng của người chinh phụ được diễn tả rất sâu sắc. Nỗi đau khổ ấy hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, đau khổ trải ra trong không gian và dằng dặc theo thời gian. Nàng nhìn đâu cũng chỉ thấy tình cảnh lẻ loi của bản thân mình. Nỗi lạnh lẽo buốt giá từ cõi lòng người chinh phụ đã trùm lên ngoại cảnh, len lỏi vào các sự vật,… khiến nàng thốt lên những lời sầu tủi bi thiết. Nỗi đau khổ của người chinh phụ có nhiều lí do mà có thể thấy được các nguyên nhân chính sau:

–  Thứ nhất, người chinh phụ đang sống trong cảnh cô đơn, lẻ loi khi chồng nàng đi chinh chiến nơi chiến địa sa trường đã mấy mùa xuân bặt vô âm tín. Người chinh phụ đã phải chờ đợi,chờ đợi và chờ đợi đến héo mòn tuổi xuân, có lúc gần như tuyệt vọng hoàn toàn. Người chinh phụ càng khao khát đoàn tụ, khao khát cuộc sống vợ chồng bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh tuyệt vọng bấy nhiêu. Đó là bi kịch đôi lứa chia lìa khiến người chinh phụ đau khổ, bất hạnh.

 

–  Thứ hai, nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ chính là cuộc chiến tranh phi nghĩa mà vì nó vợ chồng nàng phải xa nhau. Trong suy nghĩ của nàng, người chồng phải chịu cảnh sống vất vả, sống chết không định trước, “dãi thây trăm cho làm công một người” đã làm cho bao gia đình tan nát, bao tổ ấm trở nên lạnh lẽo. Bi kịch của người chinh phụ, vì thế là bi kịch có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa một cách mạnh mẽ, đồng thời qua đó cũng vang lên tiếng nói nhân đạo lớn lao của tác phẩm.

Câu 3: Xác định những câu thơ là lời nói của người chinh phụ và cho biết giá trị biểu đạt của nó

Gợi ý trả lời:

Những câu thơ là lời nói của người chinh phụ là:

–   Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

–  Lòng này gửi gió đông có tiện

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Giá trị biểu đạt của nó trong bài thơ là: Việc đưa những lời trực tiếp đó làm cho lời văn trở nên sinh động hơn, có hồn hơn và góp phần làm nổi bật bi kịch tinh thần do chính nàng bộc lộ cùng nhưng bất hạnh của người chinh phụ.

Câu 4: Đọc diễn cảm đoạn trích (có thể ngâm thơ nếu được). Hãy nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát và có sự so sánh với các thể thơ mà anh (chị) biết.

Gợi ý trả lời:

–  Thể thơ lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Sau này, thể thơ ấy đã được biến đổi thành thể song thất lục bát thường thấy trong văn học chữ Nôm và trở thành một trong các thể loại có nhiều thành tựu đỉnh cao của thời đại văn học này. Bản thân cách cấu tạo câu thơ và vần luật của nó cũng đã tạo nên một thứ nhạc điệu lên bổng xuống trầm một cách linh hoạt, có khả năng diễn tả tài tình những cung bậc khác nhau của tâm trạng con người, Phan Huy Thực cũng đã dịch Tì bà hành của Bạch Cư Dị sang thể thơ này. Nguyễn Du đã dùng thể thơ này để khóc cho “thập loại chúng sinh” trong “Vận chiêu hổn” và nhiều tác phẩm khác.

–  “Chinh phụ ngâm” là tác phẩm thuộc thể loại ngâm khúc, nghĩa là một khúc ngâm dài mà trong đó diễn tả mọi cung bậc của nỗi buồn triền miên ở người chinh phụ. Nguyên tác của Đặng Trần Côn được viết bằng chữ Hán, theo thể đoản trường cú là thể thơ có những câu thơ ngắn, dài xen kẽ với nhau. Sau này, dịch giả tài hoa Đoàn Thị Điểm, với một nỗi cảm thông kì lạ với nỗi lòng người chinh phụ,  đã dịch tác phẩm của Đặng Trần Côn sang bản chữ Nôm với thể thơ song thất lục bát vô cùng đắc địa cho việc thể hiện tâm trạng và cảm xúc của người chinh phụ cũng như nỗi niềm xót thương, đồng cảm của tác giả đối với nàng.

 

–  Nếu khúc ngâm được dịch bằng thể thơ khác thì chắc chắn hiệu quả biểu đạt sẽ không bằng thể song thất lục bát. Gần hơn cả với thể thơ này là thể thơ lục bát. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được viết bằng thể thơ này vì đó là một tiểu thuyết bằng thơ. Tuy nhiên, “Chinh phụ ngâm” là một khúc ngâm có tính “độc diễn” tâm trạng, lại có những câu thơ thể hiện sự cô đơn, lay lắt của con người trong nỗi sầu muộn. Nếu sử dụng thể thơ lục bát sẽ không tránh khỏi giọng đều đều bằng phẳng dù có câu ngắt nhịp khác nhau cũng không thể bằng sự xuất hiện của 2 câu 7 chữ xen kẽ với cặp câu 6 – 8. Thể song thất lục bát đã khắc phục được điều đó. Có thể nói, chính nội dung tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình và sự đồng cảm cao độ của người nghệ sĩ đã bắt gập thể thơ song thất lục bát như một định mệnh để rồi tất cả tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó có thể thơ nào có thể diễn tả được như thế.

–  Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” có giá trị lớn lao ngoài khả năng tạo dựng nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, kết hợp với giọng sầu thương bi thiết còn được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, khơi gợi tình cảnh lẻ loi. Bên cạnh đó, các từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo nên giọng điệu sầu bi ấy.

Soạn bài: Tác giả Nguyễn Du – văn lớp 10

Soạn bài: Tác giả Nguyễn Du – văn lớp 10

Bài làm

Câu 1: Anh (chị) có nhận xét gì về cuộc đời Nguyễn Du ? Điều đó có thể góp phần lí giải sáng tác của nhà thơ như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

*  Về cuộc đời Nguyễn Du cần lưu ý các điểm sau:

– Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ngày 3/1/1766 (tức ngày 23/11/ năm Ất Đậu –

1765) mất ngày 18/9/1820 (tức 10/8 năm Canh Thin).

– Ảnh hưởng của gia đình và vãn hóa vùng miền đồi núi đối với sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du:

+ Quê cha Hà Tĩnh, núi Hồng, sông Lam vùng đất địa linh nhân kiệt, nghèo khổ.

+ Quê mẹ Kinh Bắc hào hoa, cái nôi của dân ca quan họ.

+ Quê vợ đồng lúa Thái Bình, đặc trưng của Đồng bằng Bắc bộ.

+ Bản thân ông sinh ra ở Kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến

+ Dòng dõi quan lại quý tộc, học vấn cao nổi tiếng, nhân dãn Hà Tĩnh đã có câu ca ngợi ca về dòng họ này: “Bao giờ Ngàn Hống hết cây / Sông Rum (sông Lam) hết nước, họ này hết quan”.

* Nhận xét về cuộc đời Nguyễn Du: Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều thăng trầm trong một thời đại đầy biến động. Bi kịch cuộc đời đã hun đúc thiên tài, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương với giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo lớn lao:

– Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quý tộc có nhiều đời và nhiều người làm quan to, cha Nguyễn Du làm tới chức Tể tướng, có truyền thống học vấn uyên bác. Nguyễn Du đã thừa hưởng được ở gia đình, dòng họ trí tuệ và truyền thống ấy. Nguyễn Du đã có học thức chữ Hán và cả chữ Nôm. Chính vì thế, ông có nhiều tác phẩm viết bằng cả hai loại chữ này.

– Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều thăng trầm trong một thời đại đầy biến động. Lên 10 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha lẫn mẹ. Nhà Lê sụp đổ (1789), Nguyễn Du sống cuộc đời phiêu dạt, chìm nổi long đong. Hơn 10 năm gió bụi, sống gần nhân dân, thấm thìa bao nỗi ấm lạnh kiếp người. Chính vì thế, ông có niềm thương cảm và đồng cảm lớn đối với những thân phận nổi nênh, đặc biệt là số phận của người tài hoa bạc mệnh và những đào hát bị xã hội khinh miệt.

* Điều đó có thể góp phần lí giải nguyên nhân mà sáng tác của nhà thơ mang giá trị hiện thực với cái nhìn sâu sắc và giá trị nhân đạo và thế lực tác oai tặc quái ghê gớm của đồng tiền. Tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện niềm quan tâm sâu sắc đến thân phận con người. Cảm hứng bao trùm là cảm hứng xót thương, đau đớn. Nguyễn Du ngợi ca vẻ đẹp con người, trân trọng những khát vọng của họ, đặc biệt là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu và công lí… Nguyễn Du được ca ngợi là người có “con mắt trông thấu sáu cõi” là “tấm lòng suy nghĩ nghìn đời”. Cho nên thơ của ông “như có máu thấm nơi đầu ngọn bút” Mộng Liên Đường chủ nhân.

 

– Làm quan cho nhà Nguyễn (1802), được phong tới chức Học sĩ điện Cần Chánh, được cử làm chánh sứ Trung Quốc… Nhưng Nguyên Du ít nói, lúc nào cần thầm lặng, ưu tư, tư tưởng của Nguyễn Du có mâu thuản phức tạp nhưng đó là sự phức tạp của một thiên tài đứng giữa một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Những phức tạp trong tư tường Nguyên Du phán nào được ông thể hiện trong những sáng tác của mình.

–  Nguyễn Du đã khẳng định tư tưởng nhân đạo trong sáng tác của mình. Chính nỗi bất hạnh lớn đã làm nên một nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại. Sáng tác của Nguyễn Du đạt tới trình độ nghệ thuật bậc thầy của văn chương trung đại Việt Nam. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện, tài hoa. Thơ Nôm của ông, đặc biệt là Truyện Kiều là đỉnh cao rực rỡ của vãn học tiếng Việt. Nguyễn Du đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học dân tộc.

Câu 2: Cho biết các sáng tác chính của Nguyễn Du và đặc điểm chủ yếu của chúng.

Gợi ý trả lời:

* Những sáng tác chính của Nguyễn Du gồm các tác phẩm có đặc điểm như sau:

–  Sáng tác bằng chữ Hán: 249 bài, ba tập thơ: Nội dung của những tập thơ chủ yếu là phê phán chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống của con người. Ca ngợi, đồng cảm với những người anh hùng, người nghệ sĩ tài hoa, cao thượng. Ông cũng bày tỏ sự cảm thông với những thân phận nghèo khổ, người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. Ba tập thơ đó là:

+  “Thanh hiên thi tập” (78 bài – Viết trong khoảng 10 năm gió bụi ở đất Bắc)

+  “Nam trung tạp ngâm” (40 bài – Viết trong khoảng thời gian làm quan cho nhà Nguyễn ở Huế, Quảng Bình).

 

+  “Bắc hành tạp lục” (131 bài – Viết trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc)

–  Nhiều tác phẩm chữ Nôm:

+  “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều), một tác phẩm bằng thơ lục bát dài 3254 câu, được viết trong một thời gian dài. Tác phẩm này là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam. Nội dung được mô phỏng từ tiểu thuyết chương hồi chữ Hán: “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân.

+  “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn chiêu hồn), một kiệt tác viết theo thể song thất lục bát dài 184 câu. Nội dung tác phẩm thể hiện tấm lòng nhân ái mênh mang của người nghệ sĩ hướng tới những linh hồn bơ vơ không nơi nương tựa, nhất là người phụ nữ và trẻ em trong ngày lễ Vu lan rằm tháng bảy hàng năm ở Việt Nam.

* Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du

–  Đặc điểm nội dung:

+  Thơ ông không phải chủ yếu nói đến cái chí của người quân tử mà thể hiện tình cảm chân thành, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, những số phận bất hạnh.

+  Khái quát được bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến, bọn vua chúa quan lại chà đạp lên quyền sống của con người.

+  Là người đầu tiên trong văn học trung đại đặt vấn đề về những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh với cái nhìn xuất phát từ tấm lòng nhân đạo sâu sắc.

+  Đề cao quyền sống của con người, thể hiện sự đồng cảm và ca ngợi tình yêu lứa đôi, tự do, khát vọng và hạnh phúc của con người.

–  Đặc sắc nghệ thuật:

+  Học vấn uyên bác, thành công trong nhiều thể loại thơ ca: ngũ ngôn, thất ngôn, ca, hành.

+  Thơ lục bát, song thất lục bát chữ Nôm đến tuyệt đỉnh thi ca trung đại.

+  Tinh hoa ngôn ngữ bình dân và bác học Việt đã kết tụ nơi thiên tài Nguyễn Du – Nhà phân tích tâm lí bậc nhất của thơ lục bát, song thất lục bát.

Câu 3: Hãy cho biết giá trị trong các sáng tác của Nguyễn Du.

Gợi ý trả lời:

*  Giá trị tư tưởng trong sáng tác của Nguyễn Du là:

– Giá trị hiện thực: Phản ánh hiện thực xã hội với cái nhìn sâu sắc, chân thực và đầy nghiêm khắc về những bất công trong xã hội. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du phản ánh thực tế đời sống, cảnh đói cơm rách áo của bản thân, sự đối lập giàu nghèo… (Sở kiến hành, Phản chiêu hồn) Truyện Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo sự bất nhân của bọn quan lại và thế lực tác oai tác quái ghê tởm của đồng tiền. Văn tế thập loại chúng sinh phản ánh cuộc sống khốn khổ của những con người “dưới đáy” xã hội.

 

–  Giá trị nhân đạo: Tác phẩm của Nguyễn Du đã đạt đến tầm của tiếng nói “hiểu đời” (Cao Bá Quát). Nguyễn Du có “con mắt trông thâu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

+  Thể hiện niềm quan tâm sâu sắc đến thân phận con người (Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí, Sở Kiến hành, Văn chiêu hồn…). Cảm hứng bao trùm là cảm hứng xót thương, đau đớn.

+  Ngợi ca vẻ đẹp con người, trân trọng những khát khao của họ, đặc biệt là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu, công lí… Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người.

*  Giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Du

–  Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh tế, tài hoa.

–  Thơ chữ Nôm của Nguyễn Du đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc là thể lục bát và song thất lục bát.

–  “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được nâng lên hàng tiểu thuyết viết thành thơ, Nguyễn Du có công đổi mới nghệ thuật truyện Nôm: nghệ thuật tự sự miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh tả tình đều tài hoa.

– Nguyễn Du đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ vãn học tiếng Việt, câu thơ tiếng Việt trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp đa dạng, tiểu đối phong phú hóa, vận dụng các phép tu từ đạt hiệu quả nghệ thuật cao.